- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Về điều luật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 L…
- Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Ngọc B; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Ngọc B
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày: 12/4/2021 V/v: Tranh chấp ly hôn & nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Khánh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Anh Huân và ông Nguyễn Khắc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thế Hồng – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện VKSND huyện Hương Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thương - Kiểm sát viên.
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 12/4/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 104/2020/TLST-HNGĐ, ngày 04/11/2020 về việc “Tranh chấp ly hôn & nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 04/3/2021 và Quyết định hõa phiên tòa số: 01/2021/QĐST-DS, ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; sinh năm: 1997. Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn 02, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T; sinh năm: 1981. Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn 05, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Anh T vào ngày 31 tháng 10 năm 2017 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị H và anh T sống hạnh phúc được một thời gian ngắn khoảng hơn 02 năm, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra tranh cãi và ngày càng gay gắt trong cuộc sống hàng ngày dù là mẫu thuẫn nhỏ nhặt, anh T coi thường xúc phạm chị H, kiếm chuyện gây mâu thuẫn trong gia đình nên từ tháng 5 năm 2020 chị H quyết định sống ly thân anh T cho đến nay, hiện tại chị H xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, đời sống chung không còn tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Anh T để đảm bảo cuộc sống tự do mỗi người.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh T có 01 con chung, cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày: 04/8/2018, hiện tại đang sống cùng chị H, sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B đến đủ 18 tuổi. Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình sống chung chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về phía bị đơn anh Nguyễn Anh T: Sau khi Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án và các giấy triệu tập nhưng anh T không có mặt tại Tòa án để làm việc. Vì vậy, Tòa án tiếp tục tống đạt các văn bản tiếp theo gồm: Giấy triệu tập; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Nguyễn Anh T không ký nhận bất kỳ văn bản nào; Tòa án nhân dân huyện H và Ủy ban nhân dân xã S đã tiến hành lập biên bản về việc anh T luôn cố tình trốn tránh không ký nhận văn bản đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Anh T không có ý kiến gì và cũng không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập cũng như thông báo hòa giải. Tại phiên tòa ngày 26/3/2021 anh T không có mặt nên Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa, đồng thời quyết định hoãn phiên tòa đã được tống đạt cho anh T và tiến hành niêm yết theo đúng quy định của pháp luật nhưng tại phiên tòa hôm nay lần thứ hai bị đơn anh Nguyễn Anh T vắng mặt không có lý do.
* Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay thấy rằng Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, trình tự thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng pháp luật. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H chấp hành đúng pháp luật, còn bị đơn anh Nguyễn Anh T không thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự đó là không có mặt tại Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập; không ký nhận vào các biên bản giao nhận văn bản tố tụng; không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do là chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc Tòa án tiếp tục xét xử và ra Bản án vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
- Về căn cứ điều luật: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Anh T.
+ Về quan hệ con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2018 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, vì hiện tại cháu còn nhỏ và đang ở cùng chị H. Anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
+ Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Anh T. Anh T có nơi cư trú tại: Thôn 05, xã Sơn Hồng, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, do vậy xác định đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị H đã có bản khai, bản lấy lời khai trình bày quan điểm giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tố tụng và cũng đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra, giao nộp tiếp cận chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ, còn bị đơn anh T không ký nhận vào biên bản giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh T có mặt tại địa phương nhưng anh T cố tình vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Anh T vào ngày 31 tháng 10 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn chị H, anh T sống hạnh phúc được khoảng 02 năm, nhưng thời gian gần đây vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra tranh cãi và ngày càng gay gắt nên chị H, anh T quyết định sống ly thân nhau từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Hiện tại chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Anh T. Quá trình giải quyết vụ án mặc dầu anh T có mặt tại địa phương nhưng không đến Tòa án để làm việc cũng như không tham gia các phiên hòa giải, phiên tòa; đồng thời cũng không có văn bản gì thể hiện ý kiến của mình, có ý thức bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Bên cạnh đó để có cơ sở giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị H, anh T tại thôn 05 và ủy ban nhân dân xã S, huyện H nơi vợ chồng cư trú thì đã được Ban cán sự thôn 05 và ủy ban nhân dân xã Sơn Hồng khẳng định: Trong thời gian chung sống tại địa phương anh T, chị H thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn và ngày càng gay gắt, trầm trọng không thể giải quyết, hiện tại anh T và chị H đã sống ly thân nhau. Điều đó khẳng định mục đích cuộc hôn nhân chị H và anh T không đạt được và tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thu H tha thiết yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn, nên Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị H được ly hôn anh Nguyễn Anh T.
Về quan hệ con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình sống chung giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh T có 01 người con chung, cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày: 04/8/2018. Chị H khai, kể từ khi chị và anh T sống ly thân nhau đến nay thì chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu B, sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng muốn được tiếp tục nuôi dưỡng cháu B cho đến đủ 18 tuổi, vì cháu đang còn nhỏ. Đồng thời Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã S về việc hiện tại cháu B đang sinh sống cùng với ai thì đã được chính quyền địa phương cung cấp hiện tại chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Còn anh T không có ý kiến gì về vấn đề con chung. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 58, Điều 81, các khoản 1, 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Ngọc B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp về mọi mặt của cháu là phù hợp quy định pháp luật.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị H đảm bảo đủ điều kiện vật chất để nuôi con, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, vì từ khi chị H và anh T sống ly thân đến nay thì chị H đủ đảm bảo mọi điều kiện để nuôi cháu B, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận sự tự nguyện của chị H, do đó anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Anh T không có tài sản chung, không có nợ chung và không có ai vay nợ anh, chị tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
* Về điều luật: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016, xử:
*. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
*. Về quan hệ con chung: Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 04 tháng 8 năm 2018 đến đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị H.
Anh Nguyễn Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
*. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004838, ngày 04/11/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
*. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/4/2021). Bị đơn anh Nguyễn Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc kể từ ngàybản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện H; - Chi cục THA Dân sự H; - UBND xã S, huyện H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Quốc Khánh |