- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ông Lê Thanh P ly hôn với bà Thạch Thị P1"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận ông Lê Thanh P và bà Th ch Th P1 là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày: 21- 01- 2021 V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà h m Th M i.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Cao hát.
Bà Trần Th Thúy hượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th M Hiền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đinh Th Mộng Cầm - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2021 t i Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 311/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 04/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1985 (có mặt)
Đ a chỉ: Khóm , phường 1, th xã H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Th ch Th P1, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Đ a chỉ: Ấp T, xã H1, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 8 năm 2020 và các lời khai của nguyên đơn là ông Lê Thanh P thể hiện nhƣ sau: Ông và ch P1 chung sống vào năm 2002 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống có hai con chung Lê Th Thanh T, sinh ngày 09/3/2003 và Lê Văn M, sinh ngày 03/6/2005; hai con hiện đang sống với ông P từ khi khi ly thân đến nay. Sau khi cưới nhau thì hai vợ chồng ông bà ở chung với cha mẹ ruột (ông là con một trong gia đình). Do ở quê ông không có việc làm nên cả nhà cùng vào thành phố tìm việc làm để sinh sống và thuê nhà ở trọ. Thời gian vợ chồng sống h nh phúc được khoảng 10 năm thì tính tình bà P1 có nhiều thay đổi nên vợ chồng sinh ra cự cải, bà P1 cho rằng cha mẹ ông khó khăn nên kiếm chuyện bỏ ra ngoài ở riêng vào khoảng tháng 11 năm 2019. Thấy vậy, ông đi theo vợ sống bên ngoài được khoảng 01 tháng và năn nỉ vợ trở về cùng sống cùng cha mẹ nhưng khi trở về nhà thì cũng ở được một thời gian thì bà P1 tiếp tục bỏ đi từ ngày 03/01/2020 âm l ch cho đến nay không quay về nữa. Nay ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể sống h nh phúc, bà P1 không đồng ý ở cùng với cha mẹ ông, hay kiếm chuyện cự cãi, cuộc sống hôn nhân không có ý nghĩa nên ông yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Ông P yêu cầu được ly hôn với bà Th ch Th P1;
Về con chung: Ông P yêu cầu được nuôi hai con chung tên Lê Th Thanh T, sinh ngày 09/3/2003 và Lê Văn M, sinh ngày 03/6/2005 và không yêu cầu bà P1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông P không yêu cầu Tòa giải quyết;
Về nợ chung: Không có.
Bà Thạch Thị P1 là bị đơn có lời khai nhƣ sau: Bà thống nhất với lời trình bày của ông P về thời gian chung sống, con chung, vợ chồng không có đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn do mẹ chồng khó khăn và hay kiếm chuyện với bà, bà làm nghề buôn bán, đi làm về nhà còn b la rầy, mắng chưởi và bà chỉ trả lời mấy câu thì l i b chưởi. Bà đang b bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu nhưng ở bên nhà chồng thì b cha mẹ chồng và chồng kiếm chuyện chưởi mắng nên sẽ ảnh hưởng tới bệnh của bà, vì vậy bà đã bỏ đi từ ngày 03/01/2020 âm l ch, hiện bà đang ở nhờ nhà em trai út ở xã H1. Về tình cảm vợ chồng, hiện t i bà vẫn còn thương chồng nên không đồng ý ly hôn nhưng bà không thể quay về sống chung nhà chồng được, chồng bà phải cùng bà ra ở riêng, để cho cha mẹ chồng ở riêng rồi vợ chồng cùng gửi tiền phụ lo cho cha mẹ.
Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì bà có yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Bà P1 không đồng ý ly hôn với ông P và xin được đoàn tụ;
Về con chung: Bà P1 yêu cầu được nuôi hai con chung tên Lê Th Thanh T, sinh ngày 09/3/2003 và Lê Văn M, sinh ngày 03/6/2005 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà P1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Con chung của ông P và bà P1 tên Lê Thị Thanh T và Lê Văn M có lời khai như sau: Hai cháu T và M có nguyện vọng sống với cha là ông Lê Thanh P.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy đ nh của pháp luật. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như t i phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy đ nh của pháp luật, riêng b đơn chưa thực hiện đúng quy đ nh.
Về nội dung vụ án, đề ngh Tòa án giải quyết về hôn nhân: Do ông P và bà P1 chung sống nhưng không đăng ký kết hôn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình không công nhận ông P và bà P1 là vợ chồng. Về con chung: ông P và bà P1 đều yêu cầu được nuôi con tên Lê Th Thanh T và Lê Văn M và không yêu cầu bà P1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hai cháu T và M đang sống với ông P và ông P vẫn chăm sóc các con tốt, hơn nữa T và M cùng có nguyện vọng sống với cha là ông P nên căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao hai cháu Lê Th Thanh T, sinh ngày 09/3/2003 và Lê Văn M, sinh ngày 03/6/2005 cho ông P trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Về tài sản chung: Ông P và bà P1 không yêu cầu. Về nợ chung: ông P, bà P1 khai không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Buộc ông P nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui đ nh pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông P và bà P1 tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy đ nh t i các Điều 28; 35; 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Ông P và bà P1 chung sống với nhau vào năm 2002 nhưng không có đăng ký kết hôn là vi ph m quy đ nh t i Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014 nên hôn nhân của ông, bà là hôn nhân không hợp pháp, không được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống ông P và bà P1 bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không ch u nhượng nh n nhau và cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau nên cuộc sống hôn nhân không có h nh phúc và đã không còn sống chung với nhau từ ngày 03/01/2020 âm l ch cho đến nay. Nay ông P yêu cầu được ly hôn với bà P1; còn bà P1 thì không đồng ý ly hôn. Do ông P và bà P1 chung sống nhưng không có đăng ký kết hôn nên không thể giải quyết cho ông P, bà P1 ly hôn mà cần áp dụng khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận ông P và bà P1 là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Từ khi ông P và bà P1 không còn chung sống với nhau thì con chung tên Lê Th Thanh T và Lê Văn M do ông P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và vẫn đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của ông P là có căn cứ và cũng phù hợp với ý chí, nguyện vọng của hai cháu T và M.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu bà P1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Ông P và bà P1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Ông P và bà P1 khai không có nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: ông P phải ch u án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy đ nh t i Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xét quan điểm của v đ i diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy đ nh pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVH14 ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận ông Lê Thanh P và bà Th ch Th P1 là vợ chồng.
Về con chung: Giao con chung tên Lê Th Thanh T, sinh ngày 09/3/2003 và Lê Văn M, sinh ngày 03/6/2005 cho ông Lê Thanh P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà khanh ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông P không yêu cầu bà P1 cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Về chia tài sản: Ông P và bà P1 không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Ông P và bà P1 khai không có nên nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Ông Lê Thanh P phải ch u án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền t m ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004860 ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Ông Lê Thanh P đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt t i phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời h n kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đ t hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết đ nh được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - T ND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Cầu Kè; - Chi cục TH DS huyện Cầu Kè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Hội thẩm nhân dân Trần Thị Thúy Phƣợng Trần Cao Phát | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mỹ Ai HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Mỹ Ai |