vanban.org

Bản án 01/2021/HC-ST — Hành chính

TAND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 02/07/2021 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế Ph về việc buộc Ủy ban nhân dân xã PT tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế Ph. Hủy Quyết định số 263/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Ngô Thế Ph; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ngô Thế Ph khiếu kiện quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai của Chủ tịch UBND xã PT"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế Ph về việc buộc Ủy ban nhân dân xã PT tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tr…; Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2021/HC-ST
Ngày 02-7-2021
V/v khiếu kiện quyết định xử
phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

-

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngọ Văn Tỉnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Nga.

Ông Nguyễn Ngọc Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 05/2020/TLST-HC ngày 30 tháng 12 năm 2020 về “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 01/2021/QĐST-HC ngày 03-6-2021, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Ngô Thế Ph, sinh năm: 1964 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp ông Tô, xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Bùi M, sinh năm: 1960, ông Nguyễn Đức Kh, sinh năm: 1959 và ông Lương Tuấn K, theo giấy ủy quyền số 3220 quyển số 01/TP/CC –SCC/HĐGD ngày 29/06/2021 của Văn phòng công chứng Chí Linh. (bà Mai, ông Khỏe có mặt, ông K có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người bị kiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Địa chỉ: Ấp Gò Cà, xã PT, huyện Xuyên Mộc, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Có ông Nguyễn Văn L, chức vụ: Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có mặt tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 20/9/2019 Ủy ban nhân dân (UBND) xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 26/BB-VPHC đối với ông Ngô Thế Ph do có hành vi “Chiếm đất nông nghiệp do Nhà nước quản lý để sử dụng vào mục đích nông nghiệp với diện tích 15.587m2 tại các thửa đất số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 (Bản đồ số hóa năm 2005) tại ấp Ông Tô, xã PT, huyện Xuyên Mộc”, thời gian thực hiện vào tháng 8/2018. Ông Ph không ký vào biên bản.

Ngày 24/9/2019 Ủy ban nhân dân xã PT lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 07/BB-XM với nội dung: xác định ông Ngô Thế Ph có hành vi lấn chiếm đất như biên bản số 26/BB-VPHC bằng những tình tiết xác minh cụ thể: “Dùng trụ xi măng (159 cây) dây kẽm gai rào bao quanh các thửa đất đã lấn chiếm, dựng nhà tôn có kích thước 4,70x 8,90m, vách tôn, mái lợp tôn xây nhà vệ sinh kích thước 1,80m x 2,20m, hố ga xây gạch đá, có kích thước 1,20m x 2,95m; Trồng 45 cây dừa loại cây giống cao 0,50m+ 20 cây tràm đường kính 5cm-15cm”.

Ngày 30/9/2019 Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Quyết định số 263/QĐ-XPVPHC (sau đây viết tắt là Quyết định 263) về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Ngô Thế Ph do đã thực hiện hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ.

Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền với mức phạt 2.000.000đồng.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc ông Ngô Thế Ph khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm; trả lại đất lấn chiếm.

Ngày 29/12/2019 Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc ban hành Quyết định số 346/QĐ-CCXP (sau đây viết tắt là Quyết định số 346) về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm của ông Ngô Thế Ph.

Ngày 29/12/2020 ông Ngô Thế Ph làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên:

Hủy Quyết định số 263/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2019 Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;

Hủy Quyết định số 364/QĐ-CCXP ngày 30/9/2019 Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Yêu cầu UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định. Tuy nhiên tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại ngày 23/4/2021 và tại phiên tòa người khởi kiện rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc UBND xã PT tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ngô Thế Ph

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2020 và những biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án người khởi kiện và đại diện hợp pháp của người khởi kiện trình bày như sau:

Trong quyết định xử phạt hành chính 263 và quyết định cưỡng chế 364 mà Chủ tịch UBND xã PT ban hành đều cho rằng ông Ph chiếm một phần các thửa đất số 03,13,14,19 tờ bản đồ số 31 xã PT là chiếm đất dự án 660 do nhà nước quản lý nên ban hành các quyết định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế là không đúng. Vì nguồn gốc các thửa đất này là từ năm 1990, gia đình ông Ph vào trú tại Bến Khỉ, xã Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Đồng Nai (sau này là ấp Bến Cát, nay là ấp Ông Tô, xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu) khai hoang làm đùng nuôi tôm, trồng cây ăn trái và một số cây lâu năm, đến năm 1997 thì gia đình ông Ph được cấp hộ khẩu. Từ thời điểm khai phá, sử dụng, canh tác liên tục đến nay không tranh chấp với bất kỳ ai và cũng đã chấp hành nghĩa vụ thuế nhà nước, có biên lai thuế. Vào tháng 5/2002 UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra quyết định “Kết thúc và giải thể Ban quản lý dự án 660 Bến Cát Lộc An” sau đó ông Ngô Thế Ph vẫn tiếp tục sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân xã PT vẫn cho rằng diện tích của các thửa đất số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 xã PT thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã PT để Chủ tịch xã ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với ông Ph là không đúng quy định của pháp luật;

Chủ tịch UBND xã PT cho rằng các Hộ dân trong đó có ông Ph đã hoán đổi diện tích đất khai phá để nhận 200m2 đất ở là không đúng vì phía người bị kiện đã hiểu sai về chính sách ổn định dân di cư của Chính phủ, cụ thể theo Quyết định số 1979/QĐ.UBT ngày 23/8/1996, của UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc phê duyệt Dự án ổn định dân di cư tự do vùng Bến Cát, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, theo chỉ thị 660/TTG của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là dự án 660) đã nêu “ổn định cuộc sống của 450 hộ dân di cư tự do trong đó có 377 hộ còn khó khăn trên địa bàn dự án” và cũng tại Công văn số 43/CV.UBH ngày 23/2/1998, của UBND huyện Xuyên Mộc nêu rõ “giao UBND xã PT quản lý toàn bộ diện tích đã được quy hoạch. Hiện trong khu quy hoạch đã có 19 hộ dân sinh sống. Để quản lý, UBND xã tiến hành ngay việc xác định diện tích đất của từng hộ, tài sản, cây lâu năm, hoa màu trên đất, sổ hộ khẩu từng hộ. Kiên quyết không để phát sinh hộ mới, khẩu mới”.

Tại Biên bản xét nguồn gốc sử dụng đất các hộ ấp Bến Cát, xã PT do UBND xã PT lập ngày 15/5/2013 cũng nêu rõ về nguồn gốc khai phá từ năm 1986 của các Hộ dân trên địa bàn khu vực ấp Bến Cát.

Tại Văn bản số 1260/UBND-VP của UBND huyện Xuyên Mộc ban hành ngày 10/8/2011 về việc xin chủ trương công nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho 19 hộ dân ấp Bến Cát, xã PT cũng nêu rõ từ trước 1986 các Hộ dân đã đến khai phá, làm nhà sinh sống ổn định và cải tạo đất thành đùng nuôi thuỷ sản, lộc vừng, trồng cây lâu năm.

Từ những lý do trên Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PT cho rằng ông Ph chấp nhận hoán đổi toàn bộ diện tích đất khai phá để nhận 01 nền nhà với diện tích 200m2 là không đúng vì 18 hộ dân (19 lô) nhận được cấp 200m2 đất ở là do đủ điều kiện nhận đất ở ổn định theo Chủ trương của Dự án ổn định dân di cư tự do theo chỉ thị 660/TTG của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1979/QĐ.UBT ngày 23/8/1996, của UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, (người có đất khai hoang hay không có đất khai hoang đều nhận được 01 nền nhà 200m2 để ổn định cuộc sống theo diện dân di cư).

Các hộ dân hoàn toàn không ký cam kết hay lập bất kỳ văn bản nào về việc hoán đổi diện tích đất khai phá để đổi lấy 200m2 đất như phía người bị kiện đã nêu ra, nên nguồn gốc khu đất mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PT cho rằng ông Ph lấn chiếm là không đúng mà do ông Ph tự khai phá từ năm 1986 tức là trước khi thành lập HTX Muối cho đến khi HTX Muối bị giải thể hơn nữa theo Biên bản thanh lý tài sản của HTX thì phần diện tích sân phơi muối của HTX chỉ có 1,1ha một phần diện tích rất nhỏ so với tổng diện tích của các Hộ dân khai phá trong đó có ông Ph và cũng theo Biên bản xử lý tài sản và nợ vay của HTX Muối Lộc An xã Phước Bửu lập ngày 14/3/1994 có sự xác nhận của UBND huyện Xuyên Mộc ngày 15/3/1994 và bản đồ khu vực HTX Muối được kèm theo văn bản này, thì diện tích đất của các Hộ dân nằm ngoài khu vực HTX Muối và diện tích khai hoang của các Hộ dân lớn hơn rất nhiều so với diện tích của HTX Muối được nêu trong Biên bản xử lý tài sản.

Từ đó khẳng định, diện tích đất khai phá và sử dụng của ông Ngô Thế Ph là đất có nguồn gốc khai phá từ năm 1986 trước khi thành lập HTX Muối, ở ổn định, cải tạo sử dụng, đóng thuế hàng năm cho đến năm 2012 và phần diện tích đất của các hộ này nằm trong qui hoạch dự án 660 nhưng hoàn toàn nằm ngoài Khu vực đùng Muối theo sơ đồ vị trí của HTX Muối,

Vì vậy, việc các hộ dân xây dựng hàng rào bảo vệ ranh đất và dựng nhà để chăn nuôi, trồng trọt giữ đất là hoàn toàn chính đáng. Đề nghị Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc tuyên xử UBND xã PT huỷ bỏ hoặc thu hồi tất cả các quyết định xử lý vi phạm hành chính và các quyết định cưỡng chế đối với đất của các hộ dân trên.

Theo bản tự khai đề ngày 23/4/2021 cũng như các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa hôm nay người bị kiện trình bày như sau:

Chủ tịch UBND xã PT không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Ngô Thế Ph vì những nội dung sau:

Quyết định số 263 và 346 được ban hành là căn cứ vào Điều 12 Luật đất đai năm 2013 và Điều 10 của Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính Phủ nên việc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Quyết định cưỡng chế khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND xã PT là đúng với quy định pháp luật.

Về trình tự ban hành các quyết định: Các Quyết định hành chính do Chủ tịch UBND xã PT ban hành là đúng về trình tự, thủ tục theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 102/2014/NĐ-CP của Chính Phủ

Về nội dung:

Về nguồn gốc đất của ông Ph chiếm một phần trước đây thuộc đất của Hợp tác xã sản xuất muối (Hiện nay đã giải thể) thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Xuyên Mộc, sau đó do làm ăn thua lỗ không có khả năng trả nợ nên Ngân hàng phát mãi, UBND xã Phước Bửu (cũ) đã chuộc về và quản lý diện tích đất.

Một phần có nguồn gốc từ dự án 660, cụ thể ngày 23/02/1998 Ủy ban tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành quyết định 1979/QĐ.UBT về việc phê duyệt dự án ổn định dân di cư tự do vùng Bến Cát, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Chỉ thị số 660 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là dự án 660), theo quyết định này thì Ủy ban tỉnh phê duyệt cho dự án là ổn định cuộc sống cho 450 hộ dân di cư tự do nhưng lúc này ở khu vực Bến Cát mới có tất cả 18 hộ dân nên Ban quản lý dự án đã thống nhất với các hộ ở Biên bản họp dân ngày 03/4/1998, tại biên bản này các bên thống nhất một số nội dung như các hộ dân trong đó có ông Ph bàn giao mặt bằng lại cho Ban quản lý dự án và Nhà nước sẽ cấp cho mỗi hộ 200m2 đất thổ cư để ổn định cuộc sống, sau này các hộ dân trong đó có ông Ngô thế Ph đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn mặt bằng bàn giao cho Ban quản lý dự án 660, sau đó nhà nước mới đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng mới được như hiện nay, khi dự án số 660 kết thúc nhưng các thửa đất số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 xã xã PT, huyện Xuyên Mộc mà ông Nguyễn Thế Ph chiếm vào năm 2019 thì vẫn thuộc quyền quản lý của Nhà nước, do đó việc ông Ph chiếm đất đã vi phạm pháp luật đất đai của Nhà nước do đó Chủ tịch UBND xã PT ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật. Hiện nay diện tích đất thuộc dự án số 660 đang được tiến hành để làm khu dân cư. Đối các các hóa đơn đóng thuế mà ông Ngô Thế Ph cung cấp cho Tòa án nhưng trong các hóa đơn này không thể hiện về diện tích, cũng như số tờ, số thửa cụ thể. Khi dự án số 660 giải thể thì không có Quyết định thu hồi đất nhưng thực tế thì khi ông Ph sử dụng cũng không có Quyết định giao đất.

Căn cứ để UBND xã PT cho rằng đây là đất công là do những lý do mà Chủ tịch UBND xã PT trình bày như trên; về mặt hồ sơ địa chính thì toàn bộ diện tích đất trên được thể hiện tại tờ bản đồ năm 2000 và tờ bản đồ năm 2005 đều thể hiện phần diện tích đất của ông Ph là của dự án số 660 và do Nhà nước quản lý.

Từ năm 2015 đến 2017 UBND huyện Xuyên Mộc và UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có đề án rà soát đất công để đưa vào đề án khai thác, quản lý theo quy định. Đến năm 2019 UBND tỉnh có Quyết định về việc thống nhất quản lý đất công và năm 2020 UBND huyện Xuyên Mộc có xây dựng đề án quản lý đất công Quyết định giao cho từng xã trong huyện về việc quản lý đất công theo quy định, trong đó có khu vực đất mà ông Ph đang sử dụng.

Từ những lý do nêu trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PT không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế Ph.

* Kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại cũng như tại phiên tòa, các đương sự không tranh chấp về tài liệu chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án; không yêu cầu đề nghị xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ.

Tại phiên tòa:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người bị kiện vẫn giữ nguyên Quyết định hành chính.

Đại diện VKSND huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định về trình tự thủ tục tố tụng, các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về nội dung: Quyết định số: 263/QĐ-XPVPHC ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai và Quyết định số: 364/QĐ-CCXP ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Ngô Thế Ph ban hành quá thời hạn tại khoản 1 Điều 66 Luật xử lý vi phạm Hành chính hơn nữa khi áp dụng Nghị định 102 cho thấy chủ tịch xã xử phạt đã vượt quá thẩm quyền nên phải hủy 02 Quyết định. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ph.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người khởi kiện và đại diện hợp pháp rút yêu cầu khởi kiện đối với nội dung yêu cầu “UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Ph”, xét thấy việc rút yêu cầu đối với nội dung này là hợp pháp nên căn cứ vào Điều 173 Luật Tố tụng hành chính Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của ông Ngô Thế Ph.

Về xác định đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Quyết định số 263/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2019 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai đối với ông Ngô Thế Ph và Quyết định số 346/QĐ-CCXP ngày 26/12/2019 về việc buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc là đối tượng khởi kiện và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc theo khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31 Luật Tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 29/12/2020 ông Ngô Thế Ph có đơn khởi kiện đối với Quyết định số 263/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2019 và Quyết định số 346/QĐ-CCXP ngày 26/12/2019 của Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc là còn trong thời hiệu khởi kiện theo Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Về tính hợp pháp có căn cứ của Quyết định số 263 và Quyết định số 346 của Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc:

Về trình tự, thủ tục ban hành quyết định:

Vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 20/9/2019 Ủy ban nhân dân (UBND) xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai số 26/BB-VPHC đối với ông Ngô Thế Ph xác định ông Ph có hành vi “Chiếm đất nông nghiệp do Nhà nước quản lý để sử dụng vào mục đích nông nghiệp với diện tích 15.587m2 tại các thửa đất số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 (Bản đồ số hóa năm 2005) tại ấp Ông Tô, xã PT, huyện Xuyên Mộc”, thời gian thực hiện vào tháng 8/2018, tuy ông Ph không ký vào biên bản vi phạm hành chính nhưng đã có 02 người làm chứng, ngày 24/9/2019 Ủy ban nhân dân xã PT lập biên bản xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính số 07/BB-XM với nội dung: xác định ông Ngô Thế Ph có hành vi lấn chiếm đất như biên bản số 26/BB-VPHC bằng những tình tiết xác minh cụ thể: “Dùng trụ xi măng (159 cây) dây kẽm gai rào bao quanh các thửa đất đã lấn chiếm, dựng nhà tôn có kích thước 4,70x 8,90m, vach tôn, mái lợp tôn xây nhà vệ sinh kích thước 1,80m x 2,20m, hố ga xây gạch đá, có kích thước 1,20m x 2,95m; Trồng 45 cây dừa loại cây giống cao 0,50m+ 20 cây tràm đường kính 5cm-15cm”.

Ngày 30/9/2019 Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Quyết định số 263 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Ngô Thế Ph do đã thực hiện hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ là còn trong thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thời hạn ban hành quyết định xử phạt hành chính, sau khi lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 20/9/2019 ông Ph không ký vào biên bản, quá trình làm việc thì đại diện Ủy ban nhân dân xã PT tiến hành làm việc, xác minh thêm tình tiết của sự việc, cho thấy sự việc không thuộc trường hợp phải giải trình theo quy định tại Điều 61 Luật xử lý vi phạm hành chính nhưng có tính chất phức tạp, sau khi lập biên bản Ủy ban nhân dân xã PT phải tiến hành các thủ tục xác minh thông tin, nguồn gốc đất, đương sự lại không phối hợp, nên sau 10 ngày Chủ tịch ủy ban nhân dân xã PT mới ban hành Quyết định xử phạt hành chính là phù hợp với Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về thẩm quyền và nội dung ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

Diện tích 15.587m2 đất thuộc thửa số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 xã PT, theo hồ sơ địa chính do nhà nước quản lý gồm sổ mục kê năm 2000 và 2005 cũng như bản đồ địa chính được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy, sổ mục kê năm 2000 tên chủ sử dụng đất là “Quy hoạch khu dân cư” có mục đích sử dụng cụ thể, các thửa 03, 13, 14, 19 là đất thổ cư, đến sổ mục kê năm 2005 cho thấy các thửa đất nêu trên đều có mục đích sử dụng là đất thổ cư.

Phía người khởi kiện cho rằng phần diện tích đất 15.578m2 là của ông Ph khai phá từ năm 1986 sử dụng liên tục, có kê khai và đóng thuế cho nhà nước, sau này Nhà nước có chủ trương thành lập dự án ổn định dân di cư tự do theo chỉ thị 660/TTG của Thủ tướng chính phủ và quyết định số 1979/QĐ.UBT ngày 23/8/1996 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thì các hộ dân này đã chấp hành để phần đất khai hoang này làm dự án, chứ không phải là đổi đất đã khai hoang để lấy 01 nền thổ cư diện tích 200m2 vì bản thân các hộ này trong đó có ông Ph đều đủ điều kiện cấp đất thổ cư, nay dự án 660 đã giải thể thì đất của những người này phải trả lại cho họ để sử dụng. Phía người bị kiện xác định các thửa đất ông Ph lấn chiếm này thuộc dự án 660, sau này dự án giải thể thì thuộc Nhà nước quản lý, theo hồ sơ địa chính hiện nay thì đất này quy hoạch khu dân cư đang do Nhà nước trược tiếp quản lý.

Xét ý kiến người khởi kiện cho thấy, diện tích 15.587m2 đất thuộc một phần các thửa số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 xã PT hiện nay người khởi kiện chiếm giữ bằng dây thép gai và cọc bên tông, tiến hành trồng các loại cây nông nghiệp và một số cây mọc hoang, phía ông Ph cho rằng mình là người khai hoang, có đóng thuế nhà đất nhưng cũng không xác định được đóng thuế cho những thửa đất nào, việc khai hoang không các giấy tờ như chứng nhận khai hoang và không có văn bản nào của cơ quan Nhà nước cho phép, hiện nay cũng không có chứng cứ gì thể hiện mình là chủ sử dụng đất hợp pháp từ năm 1990 đến nay nên không có cơ sở khẳng định một phần các thửa đất nên trên hiện nay thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Ph.

Xét ý kiến người bị kiện cho thấy, diện tích 15.587m2 đất thuộc một phần các thửa số 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 xã PT trước đây có một phần của hợp tác xã muối, sau này hợp tác xã muối giải thể vẫn do nhà nước quản lý, phần còn lại trước đây do ông Ph có khai thác và sử dụng nhưng vào ngày 23/8/1996 Ủy ban tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành quyết định 1979/QĐ.UBT về việc phê duyệt dự án ổn định dân di cư tự do vùng Bến Cát, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo chỉ thị số 660 của Thủ tướng Chính phủ, theo quyết định này thì Ủy ban tỉnh phê duyệt cho dự án là “ổn định cuộc sống cho 450 hộ dân di cư tự do” nhưng lúc này ở khu vực Bến Cát mới có tất cả 18 hộ dân nên Ban quản lý dự án đã thống nhất với các hộ ở Biên bản họp dân ngày 03/4/1998, tại biên bản này các bên thống nhất một số nội dung “Các hộ có tên trên (18 hộ) hiện đang tạm trú tại khu vực dự án 660 phải tự tổ chức bốc dở di dời về vị trí ổn định theo sắp xếp của ban quản lý chương trình – việc tổ chức bốc dở di dời trả lại mặt bằng phải được các hộ tự giác chấp hành đúng thời gian quy định kể từ ngày 04-4 đến ngày 13/4/1998”, sau khi bốc thăm ông Ngô Thế Ph trúng lô số 10 sau đó biên bản kết luận: “các hộ có tên nêu trên đã thống nhất nhận đất lô theo số bốc thăm và cam kết di dời theo đúng thời gian quy định”. Sau đó Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Thế Ph, phần đất ông Ph đang sử dụng bàn giao cho dự án, trước đây phần đất này trũng Nhà nước tiến hành đầu tư hạ tầng mới được như hôm nay, sau này dự án 660 giải thể Nhà nước vẫn tiến hành quản lý đất của dự án chứ chưa giao đất cho cá nhân, tổ chức nào sử dụng, nên không có cơ sở khẳng định những thửa đất trên thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Ngô Thế Ph, vì vậy hiện nay bao chiếm và trồng cây trên đất của nhà nước quản lý nên cơ quan chức năng lập biên bản vi phạm hành chính và xác định có hành vi chiếm đất là đúng, lời trình bày của người bị kiện phù hợp với những chứng cứ mà mình cung cấp.

Hành vi vi phạm vào thời điểm tháng 9/2019 nên cơ quan chức năng áp dụng nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 để xác định hành vi vi phạm và xử lý vi phạm đối với ông Ph là đúng, tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy khi lập biên bản vi phạm hành chính và ban hành quyết định xử phạt hành chính các thửa đất 03, 13, 14, 19 tờ bản đồ số 31 xã PT đều có mục đích sử dụng là đất thổ cư nhưng công chức lập biên bản lại xác định ông Ngô Thế Ph có hành vi “Chiếm đất nông nghiệp do Nhà nước quản lý để sử dụng vào mục đích nông nghiệp…” là không đúng với loại đất bị chiếm, lý giải vấn đề này người bị kiện cho rằng do không muốn phạt người dân ở mức cao nên mới lập biên bản về hành vi chiếm đất nông nghiệp để phạt cho nhẹ là không đúng với bản chất sự việc dẫn đến không đúng với thẩm quyền xử phạt, bởi vì hành vi vi phạm ông Ph phải xem xét xử phạt ở khoản 3 Điều 10 Nghị định 102/2014/NĐ-CP “Phạt tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ đối với hành vi lấn chiếm đất ở” nhưng Chủ tịch xã PT lại cho rằng người vi phạm chỉ vi phạm khoản 1 Điều 10 của nghị định 102 với với nội dung “Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất” để ban hành quyết định xử phạt với mức hình phạt chính là 2.000.000đ kèm theo các biện pháp khắc phục hậu quả là “buộc trả lại đất lấn chiếm” là không đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 1 Điều 31 của Nghị định 102, hơn nữa khi áp dụng hình phạt bổ sung “buộc trả lại đất lấn chiếm” phải thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện mới đúng với khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính và điểm đ khoản 2 Điều 31 của Nghị định 102 nên việc Chủ tịch xã PT ban hành Quyết định xử phạt hành chính số 263/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2019 đối với ông Ngô Thế Ph là không đúng thẩm quyền, do đó không có căn cứ ban hành quyết định 346/QĐ-CCXP ngày 26/12/2019 về việc Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả cũng không có căn cứ ban hành đối với ông Ph.

Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, hủy Quyết định xử phạt hành chính số 263 và Quyết định số 346 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hành chính sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Chủ tịch UBND xã PT, huyện Xuyên Mộc phải nộp 300.000đ. Ông Ngô Thế Ph được trả lại tạm ứng án phí

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 173; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính; áp dụng Điều 12 Luật đất đai năm 2013; căn cứ khoản 1 Điều 38; khoản 1 và khoản 2 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 10, Điều 31 Nghị định số 102/2014/NĐ- CP ngày 11/10/2014 của Chính Phủ;

Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế Ph về việc buộc Ủy ban nhân dân xã PT tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Thế Ph.

- Hủy Quyết định số 263/QĐ-XPVPHC ngày 30/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với ông Ngô Thế Ph;

- Hủy Quyết định số 346/QĐ-CCXP ngày 26/12/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Ngô Thế Ph.

3. Về án phí hành chính sơ thẩm:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phải nộp 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm. Ông Ngô Thế Ph được trả lại số tiền 300.000đ án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0009043 ngày 29/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt thời hạn tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ