vanban.org

Bản án 01/2020/QĐST-HC — Hành chính

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 06/03/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 33/2019/TLST-HC ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc "Khiếu kiện hủy quyế t đị nh hành chính" giữa:

Ngườ i khở i kiệ n : Ông Vũ Văn G , sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; đị a chỉ : số nhà 16, tổ 15, phườ ng T (Nay là phường C), thị xã P, tỉnh P. Ngườ i bị kiệ n: Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh P; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà D khởi kiện quyết định hành chính của UBND thị xã P"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 33/2019/TLST-HC ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc "Khiếu kiện hủy quyế t đị nh hành chính" giữa:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 145 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-HCPhú Thọ, ngày 06 tháng 3 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điể m g khoản 1 Điề u 143, Điề u 144 và Điều 145 của Luật Tố tụng hành chính;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính sơ thẩm;

XÉT THẤY:

Ông Vũ Văn G , bà Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh P hủy giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BK 144075 do UBND thị xã P cấ p ngà y 04/5/2012 đứ ng tên Vũ Văn G, thử a đấ t số 75; tờ bả n đồ 28; diệ n tí ch 158,4m2; mục đích sử dụng : Đất ở đô thị 40m2, đấ t trồ ng cây lâu năm khá c

(Đất vườ n)118,4 m2; đị a chỉ : Khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P. Đề nghị UBND thị xã P cấ p lạ i Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t đú ng vớ i diệ n tí ch mà bà Đinh Thị P (Là mẹ đẻ của ông Vũ Văn G) đã tặ ng cho quyề n sử dụ ng đấ t vớ i diệ n tí ch đấ t là 212m2 (Đất ở đô thị 40m2, đấ t trồ ng cây lâu năm khá c (Đất vườn)118,4m2. Lý do đề nghị : Ông G, bà T cho rằ ng khi đo đạ c kiể m tra hiệ n trạ ng tạ i thự c đị a thì vẫ n thể hiệ n đủ diệ n tí ch nhưng khi cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t thì thiế u 53,6m2.

Sau khi xem xé t , tài liệu chứng cứ hồ sơ thể hiện: Ngày 21/4/2012 gia đình ông G đã có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế và cho di sản thừa kế tại Phòng công chứng số 2 tỉnh P gồm có cụ Đinh Thị P, bà Vũ Thị T, bà Vũ Thị D, ông Vũ Văn G, với nội dung thỏa thuận cho ông Vũ Văn G toàn quyền sử dụng diện tích 212m2 đất (đất ở 40m2, đất vườn:172m2; đị a chỉ : Khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R140542 do Ủy ban nhân dân thị xã P Thọ cấp ngày 21/9/2000. Nhưng tại biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 24/4/2012 thể hiện: "Phần đất tặng cho theo chỉ giới 1,2,3,4,5 diện tích 158,4m2 (trong đó: Đất ở: 40m2; đất vườn: 118,4m2 (đất nằm trong hành lang bảo vệ đê); đị a chỉ : Khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P; Phầ n đấ t giảm 53,6 m2 so vớ i Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t đã được UBND thị xã cấp ngày 21/9/2000", biên bản và sơ đồ hiện trạng được thông qua, các bên có mặt nhất trí ký tên, có điể m chỉ củ a ngườ i tặ ng cho cụ Đinh Thị P, ngườ i nhậ n tặ ng cho ông Vũ Văn G , các hộ giáp danh và các thành phầ n khá c thố ng nhấ t danh giớ i diệ n tí ch ký xá c nhậ n.

Ngày 04/5/2012 ông Vũ Văn G đượ c UBND thị xã P cấ p chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t số BK 144075, đứ ng tên Vũ Văn G, thử a đấ t số 75; tờ bả n đồ 28; diệ n tí ch 158,4 m2; mục đích sử dụ ng: Đất ở đô thị 40m2, đấ t trồ ng cây lâu năm khá c (Đất vườn)118,4 m2; đị a chỉ : Khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P. Nguồn gốc thửa đất mà ông G đượ c cấ p là đất thổ cư của bố mẹ ông G là hộ bà Đinh Thị P tặ ng cho.

Ngày 07/01/2016, ông Vũ Văn G làm thủ tục chuyển nhượng 72,7 m2 đất vườn cho bà Vũ Thị M, phường T. Ngày 22/01/2016 bà Vũ Thị M đã đượ c UBND thị xã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB819211, thử a đấ t số 83 (Tách từ thửa 75), tờ bả n đồ số 28, diệ n tí ch 72,7 m2; mục đí ch sử dụ ng đấ t vườ n; đị a chỉ : khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P. Diện tích đến nay hộ ông Vũ Văn G đang sử dụng là 85,7m2 đất (trong đó: Đất ở 40m2 và đất vườn: 45,7 m2)

Kể từ thời điểm ông Vũ Văn G được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông G có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân phường T để giải quyết: Đơn thứ nhất ngày 23/8/2018; đơn thứ hai ngày 20/9/2018. Sau khi nhận được đơn của ông Vũ Văn G UBND phường T đã giải quyết đơn theo đúng trình tự (Biên bản làm việc ngày 18/10/2018; biên bản làm việc ngày 25/10/2018; biên bản làm việc ngày 22/11/2018; biên bản làm việc ngày 28/11/2018). Sau các buổi làm việc ngày 28/11/2018 ông Vũ Văn G đã đồng ý thống nhất với các nội dung đã giải quyết và có đơn xin tự nguyện rút đơn đề nghị của mình và công nhận hiện tại thực tế trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng do UBND thị xã P Thọ đã cấp cho ông ngày 04/5/2012.

Như vậ y , xác định ông G, bà T đã biế t quyế t đị nh hành chính là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 144075, đứ ng tên Vũ Văn G, thử a đấ t số 75; tờ bả n đồ 28; diệ n tí ch 158,4 m2; mục đích sử dụ ng: Đất ở đô thị 40m2, đấ t trồ ng cây lâu năm khác (Đất vườn)118,4 m2; đị a chỉ : Khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P Thọ từ năm 2012. Căn cứ điể m a khoả n 2 Điề u 116 Luậ t tố tụ ng hà nh chính thì thời hiệu khởi kiện của ông G, bà T đố i vớ i Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất mà UBND thị xã P cấ p cho ông Vũ Văn G đã hế t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính thụ lý số: 33/2019/TLST-HC ngày 11 tháng 12 năm 2019 về việc "Khiếu kiện hủy quyế t đị nh hành chính" giữa:

Ngườ i khở i kiệ n : Ông Vũ Văn G , sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; đị a chỉ : số nhà 16, tổ 15, phườ ng T (Nay là phường C), thị xã P, tỉnh P.

Ngườ i bị kiệ n: Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh P;

Ngườ i đạ i diệ n theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến L, Chứ c vụ : Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh P

Ngườ i đạ i diệ n theo ủy quyền: Ông Hoàng Anh V, Chứ c vụ : Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh P, theo giấy ủy quyền số 1368/GUQ- UBND ngày 25/12/2019.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1.Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường C thị xã P, tỉnh P;

Ngườ i đạ i diệ n theo pháp luật: Ông Mai Tiến M, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường C, thị xã P, tỉnh P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Đức A, Công chức địa chính xây dựng - UBND phường T (nay là phường C), thị xã P, tỉnh P, theo văn bản ủy quyền số 57/GUQ - UBND ngày 14/02/2020.

Bà Vũ Thị T (Chế t ngà y 25/9/2019). Ngườ i thừ a kế quyề n và nghĩ a vụ tố tụng cho bà D: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1987; đị a chỉ : Phườ ng C, thị xã P, tỉnh P và ông Nguyễ n Văn S sinh năm 1990; đị a chỉ : Khu 7, phườ ng T, thị xã P, tỉnh P.

2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án:

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án đó, nếu việc khởi kiện này không có gì khác với vụ án đã bị đình chỉ về quan hệ pháp luật có tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 144 Luật tố tụng hành chính.

3.Về án phí: Áp dụng khoản 3 Điề u 18 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Hoàn trả lại cho ông Vũ Văn G và bà Nguyễn Thị T số tiề n 300.000đ (Ba trăm nghì n đồ ng ) tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộ p theo biên lai số AA/2018/0003294 ngày 11/12/2019 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh P.

4. Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính./.

Cỡ chữ