- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Tranh chap hop dong lao dong"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn G
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/LĐ-ST Ngày: 04/6/2020 Về việc: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và tranh chấp về học nghề, tạo nghề lao động” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Pha ̣m Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Trường
2. Ông Châu Văn Bằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Thắm – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 6 năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án lao động thụ lý số 02/2020/TLST-LĐ ngày 07/01/2020, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và tranh chấp về học nghề, tạo nghề lao động” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2020/QĐXXST- LĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 giữa:
Nguyên đơn: Công ty TNHH G
Địa chỉ: Cụm công nghiệp tập trung P giai đoạn 1, thị trấn M, huyện C, tỉnh H
Người đại diện theo pháp luật: ông LEE MAN B – Chức danh: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: ông CHEUNG CHUN T – Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện tham gia tố tụng: chị Nguyễn Ngọc D – Chức vụ: Chuyên viên pháp lý. Theo văn bản ủy quyền ngày 27/9/2019 (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Quang Đ, sinh năm: 1980; Địa chỉ: 154A, đường Trần Quang Diệu, phường A, quận B, thành phố C. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc D trình bày:
Ngày 01/4/2017, Công ty TNHH G và anh Nguyễn Quang Đ đã giao kết hợp đồng lao động số HĐLĐ-LM-VN VN011163 với thời gian là 36 tháng, kể từ ngày 01/4/2017 đến 31/3/2020, anh Đ làm việc với chức năng, nhiệm vụ là nhân viên bảo vệ. Tuy nhiên kể từ ngày 17/6/2019 anh Đ tự ý nghỉ việc mà không thông báo trước cho công ty. Căn cứ Điều 37 và Điều 41 Bộ luật lao động thì anh Đ đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Do đó anh Đ phải bồi thường do do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phép với số tiền 2.112.500 đồng và bồi thường do vi phạm thời gian báo trước với số tiền 4.225.000 đồng.
Ngoài ra ngày 04/6/2019, Công ty TNHH G và anh Nguyễn Quang Đ có ký kết 01 hợp đồng đào tạo nghề số 20190604-12-HĐĐTN-LMVN. Nội dung anh Đ được cử đi đào tạo nghiệp vụ bảo vệ, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; thời gian đào tạo nghề 3 tháng, kể từ ngày 04/6/2019 đến ngày 03/9/2019. Theo hợp đồng đào tạo nghề anh Đ phải có trách nhiệm học tập nghiêm túc để hoàn thành khóa đào tạo, với tổng chi phí đào tạo là 1.450.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình đào tạo nghề từ ngày 04/6/2019 thì đến ngày 17/6/2019 anh Đ tự ý nghỉ học mà không xin phép công ty. Do đó anh Đ phải bồi thường chi phí đào tạo là 1.450.000 đồng.
Nay Công ty TNHH G yêu cầu anh Nguyễn Quang Đ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và chi phí học nghề, tạo nghề lao động với tổng số tiền là 7.787.500 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Quang Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán – Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng, người tham gia tố tụng là nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, nhưng bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 37, 43, 61, 62 Bộ luật lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Quang Đ có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH G số tiền 7.787.500 đồng
Phần án phí lao động sơ thẩm: Đương sự phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH G khởi kiện anh Nguyễn Quang Đ bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và bồi thường chi phí đào tạo nghề, theo quy định tại khoản 1 Điều 32; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Quang Đ đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Đối với yêu cầu bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì giữa Công ty TNHH G và anh Nguyễn Quang Đ đã giao kết theo hợp đồng lao động số HĐLĐ-LM-VN VN011163 với thời gian là 36 tháng, kể từ ngày 01/4/2017 đến 31/3/2020, anh Đ làm việc với chức năng, nhiệm vụ là nhân viên bảo vệ, mức lương 3.103.000 đồng/tháng; căn cứ Phụ lục hợp đồng lao động ký kết ngày 01/01/2019 thì anh Đ được hưởng mức lương với tổng số tiền là 4.225.000 đồng/tháng kể từ ngày 01/01/2019. Tuy nhiên kể từ ngày 17/6/2019 cho đến nay anh Đ tự ý nghỉ việc mà không báo cho công ty biết. Nay Công ty yêu cầu bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phép với số tiền 2.112.500 đồng tương đương ½ tháng lương và bồi thường do vi phạm thời gian báo trước với số tiền 4.225.000 đồng tương đương 01 tháng lương theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động là phù hợp.
Đối với yêu cầu bồi thường chi phí đào tạo nghề thì căn cứ theo hợp đồng đào tạo nghề số 20190604-12-HĐĐTN-LMVN. Nội dung anh Đ được cử đi đào tạo nghiệp vụ bảo vệ, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; thời gian đào tạo nghề 3 tháng, kể từ ngày 04/6/2019 đến ngày 03/9/2019. Theo hợp đồng đào tạo nghề anh Đ phải có trách nhiệm học tập nghiêm túc để hoàn thành khóa đào tạo, với tổng chi phí đào tạo là 1.450.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình được đào tạo nghề thì đến ngày 17/6/2019 anh Đ tự ý nghỉ học mà không xin phép công ty. Sau đó Công ty đã gửi thông báo mời anh Đ đến để giải quyết nhưng anh Đ không đến.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Quang Đ đã biết việc Công ty kiện yêu cầu bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và bồi thường chi phí đào tạo nghề, nhưng anh Đ vẫn không đến Tòa án, điều đó chứng tỏ anh thừa nhận việc khởi kiện của công ty là đúng.
Như vậy Công ty TNHH G khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Quang Đ có trách nhiệm bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và bồi thường chi phí đào tạo nghề với tổng số tiền 7.787.500 đồng là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Án phí lao động sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 37, 43, 61, 62 Bộ luật lao động; Các Điều 32, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn G
Buộc anh Nguyễn Quang Đ có trách nhiệm trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn G số tiền 7.787.500 đồng
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Án phí lao động sơ thẩm: Anh Nguyễn Quang Đ phải chịu là 300.000 đồng.
Hoàn trả cho Công ty TNHH G 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001407 ngày 07/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
“Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, Điều 7a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND H. Châu Thành; - THA.H Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Tiến Dũng |