vanban.org

Bản án 01/2020/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 121.816.237 đồng (trong đó, nợ gốc là 93.405.426đồng và lãi là 28.410.811 đồng) Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm trả thì bị đơn còn phải chịu lãi theo quy định tại điều 306 Lu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Bản án kinh doanh thương mại"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 306 Luật thương mại - Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/KDTM-ST
Ngaøy: 11/02/2020
V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Giang

Các hội thẩm nhân dân:

1/Ông (bà) Nguyễn Thanh Tùng

2/Ông (bà) Nguyễn Văn Sang

-Thư ký phiên tòa: ông (bà) Trần Thị Hồng Vang –thư ký Tòa án nhân dân quận C

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C: Ông (Bà) Trần Bảo Quốc- Kiểm sát viên

Trong ngày 11 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2019/TLST- TM ngày 29 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 321/2019/QĐXX-ST ngày 23 tháng 12 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH A

Địa chỉ: xã C, huyện D, tỉnh Long An

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Bùi Văn T ( văn bản ủy quyền ngày 30 tháng 5 năm 2019 )

- Bị đơn:

Nguyễn Thị Ngọc T

Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Nguyễn Văn Năng)

Địa chỉ: phường B, quận C, Cần Thơ

( Các bị đơn vắng mặt, không lý do) NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:

Ngày 12 tháng 01 năm 2008, giữa nguyên đơn và bị đơn có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn gia súc số C10046/HĐMB-LA. Khi kết thúc mua bán hai bên đã tiến hành đối chiếu và xác nhận công nợ, các bị đơn còn nợ lại nguyên đơn là 271.548.966 đồng.

Sau đó, từ ngày 24/07/2019 đến ngày 22/11/2019 ông N và bà T đã tự nguyện thanh toán cho nguyên đơn 150.000.000 đồng. Ngày 22/11/2019, nguyên đơn đã rút bớt một phần yêu cầu khởi kiện. Nay, nguyên đơn chỉ yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T, ông Nguyễn Văn N liên đới thanh toán cho công ty TNHH A số tiền nợ còn lại là: 121.816.237 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết. Bị đơn Nguyễn Văn N: Thống nhất như nguyên đơn trình bày và đồng ý trả toàn bộ số nợ nêu trên (bút lục 55).

Vụ việc không hòa giải được nên đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn 121.816.237 đồng .

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:

+Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của HĐXX ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định. Tuy nhiên, về thời hạn xét xử vụ án là chưa đúng, đề nghị rút kinh nghiệm.

+ Về nội dung vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị HĐXX chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, căn cứ vào các qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn có giao kết hợp đồng mua bán. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ. Đơn khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án nhân dân quận C thụ lý và giải quyết theo quy định tại điều 30, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử vào các ngày 26/8/2019; 23/12/2019; 13/01/2020; 11/02/2020 nhưng các bị đơn vắng mặt, không rõ lý do. Do vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

- Về hợp đồng mua bán:

Các đương sự đều thừa nhận có giao kết hợp đồng mua bán thức ăn gia súc với nhau. Cho đến thời điểm hiện tại, các bị đơn vẫn còn nợ lại nguyên đơn tổng số tiền 121.816.237 đồng (có biên bản xác nhận công nợ và sự thừa nhận tại biên bản công khai chứng cứ ngày 23/12/2019). Do vậy, cần buộc các bị đơn trả nợ cho nguyên đơn là phù hợp.

Đối với phần khởi kiện mà nguyên đơn đã rút yêu cầu, cụ thể nguyên đơn đã rút yêu cầu đối với việc buộc các bị đơn trả thêm 149.732.729đ, do các bị đơn đã trả xong: HĐXX xét thấy, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, HĐXX chấp nhận.

- Về hợp đồng thế chấp tài sản:

Ngày 22/11/2019, nguyên đơn có văn bản xin rút lại yêu cầu khởi kiện đối với hợp đồng thế chấp tài sản. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, không trái quy định pháp luật, HĐXX chấp nhận.

- Về án phí: bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 30, 35, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 306 Luật thương mại

- Nghị quyết 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 121.816.237 đồng (trong đó, nợ gốc là 93.405.426đồng và lãi là 28.410.811 đồng)

Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm trả thì bị đơn còn phải chịu lãi theo quy định tại điều 306 Luật thương mại.

2. Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với các yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút đơn (cụ thể: đình chỉ yêu cầu các bị đơn phải trả thêm 149.732.729đ và yêu cầu giải quyết đối với hợp đồng thế chấp tài sản)

3. Về án phí: Bị đơn phải chịu 6.090.811đ án phí sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 007488 ngày 24/7/2019 của Chi cục thi hành án quận C, thành phố Cần Thơ.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt được kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ