- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp về mua bán hàng hóa"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Luật thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/KDTM-ST Ngày: 24/6/2020 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hòa” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trƣơng Quốc Khánh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính
Ông Nguyễn Việt Thành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc - Cán bộ Tòa án Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành tham gia phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Sa - Kiểm sát viên
Trong ngày 24/6/2020, tại Hội trƣờng xét xử Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thƣơng mại thụ lý số: 01/2020/TLST-KDTM ngày 08/01/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng kinh tế” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 42/QĐXXST - DS ngày 25/5/2020 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu C; Địa chỉ: phƣờng 14, quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Thiên C - Giám đốc
Ngƣời đại diện theo ủy quyền: Bà Lại Thị Phƣơng T – Trƣởng phòng pháp lý. Theo giấy ủy quyền ngày 11/11/2019 của giám đốc công ty ông Trần Văn Thiên C.
2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại và Dịch vụ S; Địa chỉ: , xã T, huyện C, tỉnh B.
Ngƣời đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đoàn Huy V – Giám đốc công ty.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ngƣời đại diện ủy quyền của nguyên đơn - Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu C (sau đây viết tắ t là công ty C) trình bày:
Theo đại diện nguyên đơn thì giữa công ty C và Công ty trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại và Dịch vụ S (sau đây viết tắt là công ty S) có ký kết hợp đồng nguyên tắc bán hàng, phụ lục hợp đồng nguyên tắc về việc thực hiện giao dịch bán lốp xe tải nhãn hiệu Continental cho công ty S. Công ty C đã thực hiện việc giao hàng đầy đủ, đúng chất lƣợng theo yêu cầu đă ̣t hàng . Tuy nhiên công Ty S lại chậm trong việc thanh toán với số tiền gốc chậm thanh toán là 278,660,000 đồng tính từ ngày 12/7/2018. Số tiền lãi phát sinh chậm thanh toán công nợ quá hạn theo thỏa thuận khoản 2.2 Điều 2 Phụ lục số: 05/PL-HĐNT-TYRE/2018 ngày 26/5/2018 theo mức lãi bằng 150% lãi suất vay tại ngân hàng Vietcombank (lãi suất vay đƣợc xác định = lãi suất tiền gửi 03 tháng + 2.7%) tƣơng đƣơng mức lãi suất 11,25%/ năm.
Công ty C tiến hành khởi kiện vụ án và yêu công ty S thanh toán một lần cho Công ty C số tiền: 164.881.000 đồng (Một trăm sáu mƣơi bốn triệu, tám trăm tám mƣơi mốt nghìn đồng) trong đó bao gồm số tiền hàng chƣa thanh toán 128,660,000 đồng (một trăm hai mƣơi tám triệu, sáu trăm sáu mƣơi nghìn đồng) và tiền lãi suất chậm thanh toán: 36.221.000 đồng (Ba mƣơi sáu triệu, hai trăm hai mƣơi mốt nghìn đồng) lãi tính đến ngày 30/12/2019. Ngoài ra không có yêu cầu khởi kiện nào khác.
* Ngƣời đại diện của bị đơn - Công ty trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại và Dịch vụ S trình bày:
Ông V thừa nhận giữa công ty S và Công ty C có làm ăn chung với nhau trong đó phía công ty C là bên cung cấp lốp xe ô tô còn bên công ty S là bên đại lý mua lại để bán cho khách theo dạng ký gửi. Việc mua bán qua lại có hợp đồng, thực hiện bình thƣờng cho đến thời gian cuối năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do phía công ty Ccung cấp mặt hàng lốp xe không đảm bảo chất lƣợng. Cụ thể trong số lốp xe đã nhận khi lắp bán cho khách hàng thì bị nổ 03 lốp xe, công ty S phải đền bảo hành cho khách hàng 03 lốp nhƣng phía Công ty C đƣa nhân viên kỹ thuật lên xem xét chỉ đồng ý bảo hành 01 lốp xe. Do do đó công ty S đã yêu cầu công ty Cnhận về 13 lốp xe 11R22.5 nhƣng công ty Ctừ chối, không đến nhận lại hàng.
Công ty S không đồng ý trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của công ty C. Để giải quyết vụ việc, Công ty S yêu cầu công ty C nhận lại sản phẩm của mình là 13 lốp xe 11R22.5, HS HYBRID hãng Continetal, thực hiện bảo hành cho công ty S 01 lốp xe, còn lại bao nhiêu nợ công ty S sẽ thanh toán đầy đủ cho phía công ty C.
* Tại phiên tòa:
Các đƣơng sự cung cấp Hợp đồng phân phối (Lốp xe xontinental – thƣơng hiệu Đức từ 1971) ký ngày 25/9/2017. Phía nguyên đơn cung cấp các bản sao chứng thực hóa đơn giá trị gia tăng các lần mua bán hàng, báo cáo công nợ thu của công ty Cvới công ty S. Bảng lãi xuất của ngân hàng Vietcombank, bảng thanh công nợ và lai xuẫ
́t pha ̣t quá ha ̣n của công ty Svớ i số tiền thanh toán , thờ i gi an châ ̣m thanh toán sau khi nhâ ̣n hàng vào ngày 11/6/2017 nhƣ sau.
Nguyên đơn tiếp tu ̣c giƣ̃ nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n đề nghi ̣ Tòa án buô ̣c công ty Scó trách nhiệm trả nợ cho công ty C 128,660,000 đồng nợ gốc, yêu cầu trả tiền lãi do quán hạn thanh toán tính từ ngày 12/7/2018 cho đến ngày 30/12/2019 vớ i số tiền lai lã ̀ 34.368.528 đồng. Đồng ý khấu trừ 01 lốp xe bi ̣ hỏng phải bảo hành đền cho khách là 6.102.727 đồng, còn lại yêu cầu công ty
S phải thanh toán là 156.925.801 đồng.
Bị đơn giữ nguyên ý kiến trinh bà
̀y của minh trong quà
́ trinh già
̉i quyết vu ̣ án , không đồng ý vớ i yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc chấp hành theo quy định của pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Về việc chấp hành theo quy đinh pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm;
Về việc chấp hành theo quy định của pháp luật của các đƣơng sự: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty C, bị đơn là công ty S đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 50, Điều 306 Luật thƣơng mại 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty C. Buộc công ty S phải trả cho Công ty Csố tiền 156.925.801 đồng nợ gốc và tiền lãi do chậm thanh toán phát sinh từ ngày 12/7/2018 cho đến ngày 30/12/2019 (sau khi đa trƣ̃ ̀ 01 lốp xe thƣ̣c hiê ̣n bảo hành cho công ty S).
Buộc công ty S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo nội dung vụ án cho thấy Công ty C khởi kiện S về việc công ty S mua hàng nhƣng chậm thanh toán cho công ty C. Do các bên đƣơng sự đều thống nhất việc mua bán hàng hóa nhằm mục đích bán lại cho ngƣời thứ 3 nhằm thu về lợi nhuận cho các bên. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại trong đó quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Căn cứ pháp luật để giải quyết tranh chấp này đƣợc quy định quy định tại Luật thƣơng mại 2005 và các luật khác có liên quan.
. Về thẩm quyền giải quyết: Do tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại nên căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự và khi giải quyết Toà án có quyền giải quyết là Toà án nhân dân cấp huyện; Bị đơn công ty C có nơi cƣ trú tại huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phƣớc. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án “Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa công ty Cvới công ty S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phƣớc.
. Về thực hiện quyền nghĩa vụ của các đương sự: Do Công ty Ccó đơn khởi kiện, công ty S là ngƣời bị Công ty Ckhởi kiện tranh chấp nên Tòa án xác định công ty C là nguyên đơn, công ty S là bị đơn theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án thông báo, triệu tập đến làm việc, lấy lời khai trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, họp, hóa giải. Các đƣơng sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với nhân viên kinh doanh tên G là nhân viên kinh doanh của công ty C, ngƣờ i thƣờ ng xuyên và trƣ̣c tiếp tiến hà nh liên hê ̣ đàm phán , thƣ̣c hiê ̣n các thỏa thuâ ̣n có trong hợp đồng giƣ̃a hai bên . Tòa án đã yêu cầu các bên đƣơng sự cung cấp các thông tin cần thiết về anh G để Tòa án mời làm việc thu thập thông tin nhƣng cả hai bên nguyên đơn, bị đơn đều không cung cấp đƣợc . Do đó Tòa án không thể mờ i anh Giang vào tham gia tố tu ̣ng vớ i vai trò là ngƣờ i làm chƣ́ ng trong vụ án.
. Về chứng cứ: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng nhƣ tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn Công ty C và công ty S cùng thống nhất các bên có ký kết Hợp đồng phân phối (Lốp xe xontinental – thƣơng hiệu Đức từ 1971) ký ngày 25/9/2017; Hợp đồng nguyên tắc bán hàng số 05/HDNT –TYRE2018 ký ngày 19/5/2018; Phụ lục hợp đồng số 05/HDNT –TYRE 2018 ngày 26/5/2018; bảng đối chiếu công nợ ngày 26/10/2019; phiếu giao hàng ngày 11/6/2018. Bản chính sách bảo hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2015; Báo cáo kết quả kiểm tra lốp xe ngày 05/12/2019; bản đề xuất trả bảo hành ngày 04/12/2019. Nên đây là các tài liệu chứng cứ có giá trị chứng minh.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty C Tòa án nhận thấy:
. Căn cứ vào vào các tài liệu chứng cứ do Công ty C cung cấp có chữ ký xác nhận của công ty S cho thấy giữa Công ty Cvà công ty S có ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh với nhau từ năm 2017. Phía công ty S cho rằng mình là Đại lý, thực hiện bán hàng theo dạng ký gửi cho công ty Ctrong khi đó công ty Ccho rằng công ty S là bên mua hàng về bán lại cho bên thứ 3 nhằm kiếm lời. Hợp đồng hợp tác với nhau là hợp đồng mua bán hàng hóa theo dạng đứt đoạn mua đến đâu thanh toán đến đó. Chứng cứ các bên đƣa ra là các Hợp đồng phân phối (Lốp xe Continental – thƣơng hiệu Đức từ 1971) ký ngày 25/9/2017; Hợp đồng nguyên tắc bán hàng số 05/HDNT –TYRE2018 ký ngày 19/5/2018; Phụ lục hợp đồng số 05/HDNT –TYRE 2018 ngày 26/5/2018. Căn cứ vào các hợp đồng do các bên đƣơng sự cung cấp thừa nhận, Tòa án nhận thấy:
Hợp đồng phân phối (Lốp xe xontinental – thƣơng hiệu Đức từ 1971) ký ngày 25/9/2017 đã đƣợc các bên ký kết thực hiện với nhau và không có tranh chấp. Hợp đồng này đã hết hiệu lực và kết thúc thực hiện vào ngày 31/12/2017 do đó phía bị đơn cho rằng các bên vẫn đang áp dụng, sử dụng hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa là không có cơ sở.
Hợp đồng nguyên tắc bán hàng số 05/HDNT –TYRE2018 ký ngày 19/5/2018; Phụ lục hợp đồng số 05/HDNT –TYRE 2018 ngày 26/5/2018. Các hợp đồng này đƣợc ký kết thực hiện sau khi Hợp đồng phân phối (Lốp xe Continental – thƣơng hiệu Đức từ 1971) ký ngày 25/9/2017 hết hiệu lực. Nội dung hợp đồng nguyên tắc và phụ lục hợp đông nguyên tắc đều thể hiện rõ ràng đây là hợp đồng mua bán hàng hóa trong đó có quy định rất rõ ràng các điều khoản quy định về bên mua, bên bán, đơn hàng, hàng hóa mua bán, giao nhận, giá cả, phƣơng thức thanh toán,.... thực hiện hợp đồng. Các nội dung này đã đáp ứng đầy đủ các nội dung đƣợc quy định theo Điều 24 Mục 1, Mục 2 Chƣơng II Mua bán hàng hóa của Luật thƣơng mại. Nội dung tranh chấp giữa các bên là việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa đƣợc thực hiện theo phiếu giao hàng ngày 11/6/2018. Tại phiên tòa bị đơn cũng thƣ̀ a nhâ ̣n mua hàng về bán giá bao nhiêu là do phia bi ̣́ đơn tƣ̣ quyết
, sau khi có tham khảo ý kiến của nhân viên kinh doanh bên bán và th ị trƣờ ng đi ̣a phƣơng. Lợi nhuâ ̣n sau khi bán hàng thuô ̣c về bên mua (công ty S mà không trả về bên bán. Bên bán là công ty C cũng không quy đi ̣nh về giá bán, áp đặt doanh số bán hàng cho bên mua. Mă ̣t khác trong hợp đồng , phụ lục h ợp đồng cũng không có điều khoản nào thể hiê ̣n hàng hóa vẫn thuộc về chủ sở hữu là công ty C (bên bán) sau khi đa xuẫ
́t bán cho bên mua là công ty Sơn Vũ , không có điều khoản cho phép bên mua trả hàng khi không bán đƣợc (trƣ̀ trƣờ ng hợp khách quan, bất khả kháng đƣợc quy định tại mục 6.3, Điều 6). Vì vậy yêu cầu đƣợc trả hàng sau khi không bán đƣợc của công ty Slà không có cơ sở để đƣợc Tòa án chấp nhận.
Tƣ̀ nhƣ̃ng nhâ ̣n đi ̣nh trên , Tòa án có cơ sở để kết luận Hợp đồng nguyên tắc bán hàng số 05/HDNT –TYRE2018 ký ngày 19/5/2018; Phụ lục hợp đồng số 05/HDNT –TYRE 2018 ngày 26/5/2018 giữa công ty Cvà công ty S là hợp đồng mua bán hàng hóa, không phải là hợp đồng làm đại lý hay phân phối hàng hóa theo nhƣ trình bày của bị đơn là công ty S.
. Công ty Ckhởi kiện cho rằng công ty S còn nợ công ty C128.660.000 đồng nợ gốc tiền mua hàng chƣa thanh toán theo đơn đặt hàng đã giao ngày 11/6/2018. Yêu cầu khởi kiện của công ty C phù hợp với bản tóm tắt sao kê thanh Toán của Công ty C trong đó thể hiện công ty S đã mua hàng của công ty Cnhiều lần với tổng số tiền hàng đã mua là 565.660.000 đồng. Công ty S đã thanh toán cho công ty C437.000.000 đồng nợ gốc. Hiện còn nợ 128.660.000 đồng nợ gốc chƣa thanh toán. Phù hợp với hóa đơn giá trị gia tăng công ty Cxuất bán hàng cho công ty S, phù hợp với bản đối chiếu công nợ ngày 26/10/2019 các bên đã ký kết xác nhận. Do đó Tòa án có cơ sở để kết luận việc công ty C khởi kiện yêu cầu công ty S hoàn trả nợ trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo hóa đơn bán hàng xuất ngày 13/6/2018, phiếu giao hàng ngày 11/6/2018 với số tiền nợ gốc 128.660.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật.
. Về thời điểm xác định nợ quá hạn số nợ gốc quá ha ̣n và số tiền quá hạn qua tƣ̀ ng thờ i điểm là : Các bên đƣơng sự thống nhất thừa nhận ngày 11/6/2018 là ngày công ty C giao hàng cho công ty S. Tại mục 1.1 Điều 1 của Phụ lục hợp đồng số 05/HDNT –TYRE 2018 ngày 26/5/2018 có quy định bên B (bên mua) có nghĩa vụ thanh toán công nợ mua hàng cho bên A tối đa 30 ngày tình từ ngày mua hàng. Nhƣ vậy, ngày 11/6/2018 là ngày giao hàng thì ngày cuối cùng của thời hạn thanh toán sẽ là ngày 11/7/2018, kể từ ngày 12/8/2018 đƣợc tính là quá thời hạn thanh toán.
. Căn cứ vào hợp đồng nguyên tắc bán hàng và phụ lục hợp đồng giữa công ty S với công ty CTại mục 2.2 Điều 2 của Phụ lục hợp đồng số 05/HDNT – TYRE 2018 ngày 26/5/2018 có quy định bên B (bên mua) có công nợ quá hạn sẽ bị áp dụng mức lãi phạt = 150% lãi xuất vay tại ngân hàng Việt Combank (lãi xuất vay đƣợc xác định = lãi xuất tiền gửi 3 tháng + 2.7%). Phía nguyên đơn đề nghị áp dụng mức lãi 4,60%/năm. Căn cứ vào bảng lãi xuất hàng tháng đƣợc ngân hàng Vietcombank áp du ̣ng tƣơng ƣ́ ng vớ i thờ i điểm châ ̣m thanh toán cho thấy mức lãi xuất tiền gửi VND vớ i thờ i ha ̣n 3 tháng 4,60% năm là mức lãi thấp nhất đƣợc áp dụng với mức tiền gửi tiết kiê ̣m 3 tháng, áp dụng mức lãi này có lợi cho phía bị đơn nên đƣợc Tòa án chấp nhâ ̣n . Nhƣ vậy mức lãi do châ ̣m thanh toán đƣợc tính là (4,60% + 2,7%) x 150% = 10.95%/năm, tƣơng ƣ́ ng vớ i 0.03%/ngày. Thỏa thuận này phù hợp với Điều 306 Luật thƣơng mại về quyền yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán. Do đó thỏa thuận lãi chậm thanh toán giữa Công ty Cvà công ty S có giá trị thi hành đối với các bên đƣơng sự. Công ty Cchỉ yêu cầu công ty S thanh toán tiền lãi từ ngày 12/7/2018 đến ngày 30/12/2019 do đó Tòa án ghi nhận, chấp nhận thời gian tính lãi của công ty C.
Sau khi mua hàng, công ty Sđa thƣ̣̃
c hiê ̣n mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng thanh toán nợ gốc do đó dẫn đến số lƣợng lợ gốc để tinh lá
i quã
́ ha ̣n qua tƣ̀ ng thờ i gian là khác nhau , căn cƣ́ vào các thờ i điểm thanh toán nợ gốc , Tòa án có cơ sở để kết luận số nợ laĩ do châ ̣m thanh toán qua tƣ̀ ng thờ i ký là: Ngày tính lãi
Số ngày
quá hạn
Nợ
Thanh toán
tính lãi
Dƣ nợ
Tiền lãi (VNĐ)
12/7/2018
278,660,000
0
278,660,000 09/11/2018
278,660,000 50,000,000
120
228,660,000
10,031,760
4/5/2019
228,660,000 50,000,000
176
178,660,000
12,073,248 20/11/2019
178,660,000 50,000,000
200
128,660,000
10,719,600 30/12/2019
128,660,000
0
40
128,660,000
1,543,920
DƢ NỢ HIỆN CÒ N
128,660,000
34,368,528
Nhƣ vâ ̣y, Tòa án có đủ cơ sở để kết luân việc công ty Cyêu cầu công ty Sphải trả lãi do quá hạn thanh toán tính từ ngày 12/7/2018 đến 30/12/2019 vớ i số tiền laĩ châ ̣m thanh toàn 34.368.528 đồng là có cơ sở , phù hợp với quy định của pháp luật nên đƣợc chấp nhâ ̣n.
. Về tranh chấp bảo hành sản phẩm: Quá trình kinh doanh sản phẩm, công ty Syêu cầu công ty C thƣ̣ hiê ̣n bảo hành 03 lốp xe loại 11R22.5 bị hƣ hỏng. Công ty C chấp nhâ ̣n 01 lốp xe, không chấp nhâ ̣n bảo hành cho hai lốp xe còn la ̣i . Tại phiên tòa bi ̣ đơn không chƣ́ ng minh đƣợc 02 lốp xe không đƣợc công ty C đa đƣợ̃
c bán cho khách hàng nào , bán vào thời gian nào , 02 lốp này đƣợc nhâ ̣p tƣ̀ lô hàng nào của công ty C. Cũng không có văn bản hay giấy tờ mua bán , xác nhận việc đã phải đền bù, bảo hành cho khách hành nào , vào thời gian nào. Do đó viê ̣c xác đi ̣nh công ty S đa lẵ ́p đă ̣t bảo hành lốp xe và buô ̣c công ty C thƣ̣c hiê ̣n bảo h ành lại cho minh là chƣa thuyết phu ̣c . Mă ̣t khác căn cƣ́ vào Bản chính sách bảo hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 đƣợc các bên đƣơng sƣ̣ cung cấp và thống nhất áp du ̣ng , Báo cáo kết quả kiểm tra lốp xe ngày 05/12/2019; bản đề xuất trả bảo hành ngày 04/12/2019 cho thấy 02 lốp xe 11R22.5 HSC1ED không thuô ̣c diê ̣n đƣợc bảo hành theo chinh sá
́ch bảo hành do phia nguyên đơn đƣa ra nhƣ chí
thi ̣̉ mòn giai lốp -1.6 mm đô ̣ sâu gai còn la ̣i , lốp bi ̣ hỏng do lỗi ngƣờ i sƣ̉ du ̣ng . Sau khi không đƣợc công ty C chấp nhâ ̣n bảo hành công ty Scũng không có động thái khiếu nại đề nghị xem xét lại hay chứng minh kết luật của phía công ty C làn không có cơ sở . Do đó Tòa án chấp nhận ý kiến c ủa công ty C về viê ̣c công ty C sẽ khấu trừ giá trị 01 lốp xe cho công ty Sđể thực hiện việc bảo hành. Vớ i giá tri ̣ khấu trƣ̀ bảo hành là 6.102.727 đồng.
Căn cứ vào các mục [5.2], [5.3], [5.4], [5.5] Tòa án xác định tổng số tiền công ty S phải thanh toán cho Công ty C(tính đến ngày 30/12/2019) là 128.660.000 đồng (tiền gốc chƣa thanh toán ) + 34.368.528 đồng (tiền lãi do chậm thanh toán) - 6.102.727 đồng (tiền trƣ̀ cho 01 lốp bi ̣ hƣ hỏng phải bảo hành)= 156.925.801 đồng.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn –Công ty Cđƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận, nên Công ty Ckhông phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho công ty Csố tiền tạm ứng án phí đã nộp. Công ty S phải chịu án phí theo qui định. Cụ thể: 156.925.801 đồng x 5% = 7.846.290 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 24, Điều 49, Điều 50, Điều 306 Luật thương mại năm 2005;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận Toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty C.
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại và Dịch vụ S có trách nhiệm trả cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu C; số tiền 156.925.801 đồng (một trăm năm mươi sá u triê ̣u chin trăm hai mươi năm nghin tá m trăm lẻ một
́
̀ đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Hoàn trả lại cho Công ty C số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.122.000 đồng (bốn triệu một trăm hai mươi hai nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003997 ngày 08/01/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phƣớc.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Thƣơng mại và Dịch vụ S phải chịu số tiền án phí là 7.846.290 đồng (bảy triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn hai trăm chín mươi đồng).
3. Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
4. Trong trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phƣớc; - VKSND huyện Chơn Thành; - Chi cục THADS huyện Chơn Thành; - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Quốc Khánh |