- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự bị cáo Đỗ Thị Ph - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V TỈNH P ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HSST Ngày 06-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Công C
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc V - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố V, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 578/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Đỗ Thị Ph, sinh ngày: 05/8/1988 tại thành phố V, tỉnh P;
- Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
- Nơi ĐKNKTT: khu 1, xã P, thành phố V, tỉnh P;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
- Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
- Bố đẻ: Đỗ Văn Đ, sinh năm 1958;
- Mẹ đẻ: Lê Thị H, sinh năm 1960;
- Chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai;
- Chồng: Nguyễn Thành L, sinh năm 1989;
- Con: Bị can có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Bố, mẹ, chồng và con của bị cáo hiện đều ở xã Ph, thành phố V, tỉnh P.
- Tiền án, tiền sự: Không;
- Nhân thân: Năm 2010, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 29/3/2012, Ph chấp hành xong thời hạn đưa vào cơ sở giáo dục.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/11/2019 đến ngày 01/12/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo đang tại ngoại ở xã P, thành phố V, tỉnh P. (Có mặt).
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Ph sinh năm 1952, trú tại khu 3, xã H, thành phố V, tỉnh Ph. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 4 giờ ngày 28/11/2019, Đỗ Thị Ph đi bộ một mình ra chợ H thuộc xã H, thành phố V, tỉnh P để mua đồ ăn. Khi đi qua quầy hàng của bà Nguyễn Thị Ph. Ph phát hiện bà Ph có để một chiếc túi xách bằng vải màu nâu, viền giả da, dạng túi bao tử, kích thước 28x17 x 8cm trong chiếc làn ở tại quầy hàng. Nghĩ đây là túi đựng tiền nên Ph nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi này. Lợi dụng lúc bà Ph đẩy xe hàng không chú ý quan sát, Ph dùng tay phải lấy chiếc túi. Đúng lúc này, Ph nghe thấy tiếng hô “trộm” nên Ph cầm túi của bà Ph bỏ chạy về phía nhà văn hóa khu 3, xã H. Ph vào trong sân nhà văn hóa, mở túi lấy những tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng cất giấu tại túi áo khoác bên trong trước ngực, những tờ tiền mệnh giá nhỏ hơn Ph cầm trên tay trái, và giấu chiếc túi dưới đống củi trước nhà văn hóa. Sau đó, Ph đi ra ngoài để về nhà thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ và báo Công an xã H để giải quyết. Công an xã H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đỗ Thị Ph và thu giữ vật chứng gồm:
- Tiền Việt Nam 23.085.000 đồng, Ph khai đây là số tiền Ph vừa trộm cắp của bà Ph;
- 01 chiếc túi xách bằng vải màu nâu, viền giả da, dạng túi bao tử, kích thước 28x17x8cm của bà Ph.
Cùng ngày, Công an xã H đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V để giải quyết theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thị Ph khai nhận hành vi trộm cắp chiếc túi bên trong có 23.085.000 đồng của bà Ph như đã nêu trên.
Ngày 28/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V ra quyết định định giá chiếc túi xách bằng vải màu nâu, viền giả da, dạng túi bao tử, kích thước 28x17 x 8cm, mà Ph trộm cắp của bà Ph. Tại Biên bản định giá tài sản ngày 05/12/2019, Hội đồng định giá của Ủy ban nhân dân thành phố V xác định:
“Đối với 01 túi xách màu nâu, bằng vải viền giả da, có kích thước 28cmx17cmx8cm đã qua sử dụng có giá 80.000 đồng”.
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Ph trộm cắp của bà Phương là 23.165.000 đồng.
Ngày 04/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định trả số tiền 23.085.000 đồng và chiếc túi xách cho bà Ph. Bà Ph đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 11/QĐ-VKSVT ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P đã truy tố bị cáo Đỗ Thị Ph về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Bị cáo Đỗ Thị Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Thị Ph từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.
- Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định: Bị cáo Đỗ Thị Ph sống cùng gia đình không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Xác nhận ngày 04/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố V đã ra Quyết định trả số tiền 23.085.000 đồng và chiếc túi xách cho bà Ph. (Theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 15/12/2019)
- Về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo Đỗ Thị Ph phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn luật định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Bị cáo Đỗ Thị Ph thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang; sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng; tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng; người phạm tội có nới cứ trú, lý lịch rõ ràng. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử Cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng thủ tục rút gọn là phù hợp với khoản 1 Điều 456 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đỗ Thị Ph đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 4 giờ ngày 28/11/2019 bị cáo Đỗ Thị Ph đi bộ một mình ra chợ H, thành phố V, tỉnh P để mua đồ ăn. Khi qua cửa hàng của bà Nguyễn Thị Ph. Ph phát hiện bà Ph có một chiếc túi xách bằng vải màu nâu để trong chiếc làn nên Ph đã nảy sinh ý định trộm cắp. Lợi dụng lúc bà Ph đẩy xe hàng Phg đã lấy chiếc túi xách này và chạy vào sân nhà văn hóa khu 3, xã H mở túi lấy các tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 100.000 đồng, 200.000 đồng, 500.000 đồng cất giấu tại túi áo khoác bên trong trước ngực, những tờ tiền mệnh giá nhỏ hơn Ph cầm trên tay trái và giấu chiếc túi dưới đống củi trước nhà văn hóa. Ph bị quần chúng nhân dân bắt giữ và Công an xã H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng với số tiền 23.085.000đ.
Như vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Thị Ph đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh P truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được Nhà nước bảo vệ, đã gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần đưa bị cáo ra xét xử và có mức hình phạt phù hợp thì mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
. Về nhân thân, các tình tiết tăn nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng năm 2010 bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh P ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 29/3/2012, Ph chấp hành xong thời hạn đưa vào cơ sở giáo dục.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Ph chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên chỉ cần phạt bị cáo với hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp
. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác định bị cáo sống cùng gia đình không có tài sản riêng gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
. Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ là một chiếc túi xách bằng vải màu nâu, viền giả da, dạng túi bao tử, kích thước 28x17x8cm có giá trị 80.000đ cùng số tiền trong túi là 23.085.000đ. Xác nhận ngày 04/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố V đã ra quyết định trả số tiền 23.085.000đ và chiếc túi xách trên cho bà Ph.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 65, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị Ph 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. (Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/11/2019 đến ngày 01/12/2019)
Giao bị cáo Đỗ Thị Ph cho Ủy ban nhân dân xã Ph, thành phố V, tỉnh P để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4]. Về xử lý vật chứng: Xác nhận ngày 04/12/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Việt Trì đã ra quyết định trả số tiền 23.085.000đ và chiếc túi xách trên cho bà Nguyễn Thị Ph. (Theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 15/12/2019)
[5]. Áp dụng Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên hủy Lệnh cấp đi khỏi nơi cư trú số 01 ngày 01/12/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đối với bị cáo Đỗ Thị Ph.
[6]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Thị Ph phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh P để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh P; - VKSND thành phố V, tỉnh P; - CQCA thành phố V, tỉnh P; - THAHS, DS thành phố V, tỉnh P; - UBND xã Ph, thành phố V, tỉnh P;; - Bị cáo; - Lưu HS,VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Công C |