vanban.org

Bản án 01/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 03/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:01/2020/HSST
Ngày: 03/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Th m phán - Ch t a phi n t a: Ông Nguyễn Bảy Nhuận

- Hội th m nhân dân:

Ông Nguyễn Đại Hải

Bà Phan Thị Hồng

- Thư ký T a án ghi bi n bản phi n t a: Bà Trần Thị Thanh Huyền– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham, tỉnh Khánh Hòa gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuyến - Kiểm sát vi n.

Ngày 03 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a mở phi n t a xét xử sơ th m vụ án hình sự thụ lý số 112/2019/HSST ngày 20/12/2019 đối với bị cáo:

H và t n: Phan Văn T, sinh năm 1995 tại Phú Yên; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Y n; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: Phan Văn T (sinh năm 1971) và mẹ: Tô Thị L (sinh năm 1970); tiền án: Không, tiền sự: Ngày 16/8/2016 bị T a án nhân dân Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 146/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 15 tháng tại Trường giáo dục đào tạo và giải quyết việc làm số 02 tỉnh Lâm Đồng, chấp hành xong ngày 09/9/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2019. Có mặt.

* Người bị hại:

Anh Đoàn Hoàng V, sinh năm 1985, trú tại: Tổ dân phố X, phường P, thành phố R, tỉnh Khánh H a. Vắng mặt.

* Người làm chứng:

1. Anh Trần Ngọc P, sinh năm 1994, trú tại: Thôn T, xã X, thị xã S, Phú Yên. Vắng mặt.

2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985, trú tại: Tổ dân phố P, phường C, thành phố R, Khánh Hòa. Vắng mặt.

3. Ông Ngô Vũ T, sinh năm 1969, trú tại: Đường C, phường H, thành phố N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và di n bi n tại phiên tòa nội dung v án đư c tóm t t như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/5/2019, Phan Văn T và Trần Ng c P thu ph ng số 3 Nhà nghỉ N ở Tổ dân phố L, phường C, thành phố R để ng . Đến khoảng 0 giờ 30 phút ngày 24/5/2019, T đi mua xôi về ăn thì thấy cửa ph ng ng số 5 có gắn chìa khóa tr n ổ khóa n n nảy sinh ý định lẻ vào trộm cắp tài sản. T mở cửa phòng đi vào thấy anh Đoàn Hoàng V và chị Nguyễn Thị T đang ng tr n giường. T lấy một điện thoại di động hiệu Oppo A7, 685.000 đồng và 02 đô la Mỹ c a anh V. Sau đó, bị anh V phát hiện truy hô, T bỏ chạy thì bị anh V cùng m i người tại Nhà nghỉ N giữ lại và báo Công an phường C làm việc.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 45/HĐĐG ngày 30/5/2019 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 trị giá: 4.581.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 02 đô la Mỹ trị giá: 45.600 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị cáo Phan Văn T thực hiện hành vi trộm cắp là: 4.581.000đ + 45.600đ + 685.000đ = 5.311.600 đồng.

Bản cáo trạng số 01/CT-VKSCR-HS ngày 16 tháng 12 năm 2019 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 c a Bộ luật hình sự.

Tại phi n t a, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ nguy n Cáo trạng về nội dung, thay đổi về nhân thân xác định bị cáo có một tiền sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phan Văn T xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không y u cầu bị cáo bồi thường thiệt hại n n không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tất cả các vật chứng gồm 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 và 02 đô la Mỹ, số tiền 685.000 đồng đã được Cơ quan điều tra trả lại cho ch sở hữu.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ đư c th m tra, xét h i, tranh luận tại phiên t a, ội đ ng xét xử nhận th y như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Cam Ranh, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phi n t a bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Dó đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phi n t a nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đ lời khai c a h , được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định c a pháp luật.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Về hành vi phạm tội c a bị cáo: Tại phi n t a, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù hợp với lời khai c a người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được th m tra tại phi n t a n n có cơ sở xác định: Khoảng 0 giờ 30 phút ngày 24/5/2019, lợi dụng sự sơ hở c a ch sở hữu anh Đoàn Hoàng V trong việc bảo vệ và quản lý tài sản, bị cáo Phan Văn T đã trộm cắp c a anh V một điện thoại di động hiệu Oppo A7, 685.000 đồng và 02 đô la Mỹ, tổng trị giá tài sản bị cáo Phan Văn T thực hiện hành vi trộm cắp là 5.311.600 đồng (Năm triệu ba trăm mười một nghìn sáu trăm đ ng). Vì vậy, bị cáo Phan Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng c a Viện kiểm sát và kết luận c a Kiểm sát vi n tại phi n t a truy tố bị cáo Phan Văn T theo đúng tội danh và điều luật n u tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả c a hành vi và nhân thân c a bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội c a bị cáo là trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tr n địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, bị cáo có tuổi đời c n trẻ nhưng lười lao động, để có tiền ti u xài cá nhân n n bị cáo đã trộm cắp tài sản c a người khác. Quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh ra Quyết định truy nã đối với bị cáo đã gây khó khăn cho quá trình điều tra; bị cáo có một tiền sự ngày 16/8/2016 bị T a án nhân dân Quận 6, thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đã chấp hành xong ngày 09/9/2017. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khởi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghi m tr ng; trong quá trình điều tra và tại phi n tòa, bị cáo đều khai báo thành kh n, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội c a mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình để bị cáo thấy được sự khoan hồng c a pháp luật mà an tâm, phấn đấu cải tạo tốt.

[3] Về xử lý vật chứng: Tất cả các vật chứng gồm 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 và 02 đô la Mỹ, số tiền 685.000 đồng đã được Cơ quan điều tra trả lại cho ch sở hữu đúng theo quy định c a pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không y u cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại n n không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ th m theo quy định c a pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT Đ NH:

Tuy n bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phan Văn T;

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/11/2019.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí t a án:

Bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ th m.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án, người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời giạn 15 ngày kể từ ngày bị hại nhận được bản án hoặc bản án được ni m yết công khai theo quy định c a pháp luật để y u cầu T a án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc th m.

Cỡ chữ