vanban.org

Bản án 01/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đăk Pơ, tỉnh Gia Lai Tuyên án 01/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ VĂN TIẾN PHẠM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TICH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HSST
Ngày: 10/01/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Bích Vân - Phó giám đốc Trung tâm VHTT&TT huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Ông Nguyễn Đình Nhỏ - Phó Chủ tịch Hội nông dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Phụng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2020, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:

LÊ VĂN TI (tên gọi khác: Cu), sinh năm: 1979, tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê D, sinh năm: 1950 và bà Phạm Thị B, sinh năm 1951; vợ Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1988, vợ chồng bị cáo có 04 người con chung; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2019 đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Đình T, sinh năm: 1968 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Đào Thị Phi N, sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn A, xã C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Người làm chứng:

1. Ông Võ Văn M, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Ông Nguyễn T, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, vắng mặt tại phiên tòa.

3. Ông Trịnh Kim T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ 3, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai, vắng mặt tại phiên tòa.

4. Ông Phạm Hoài D, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, vắng mặt tại phiên tòa.

5. Bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, có mặt tại phiên tòa.

6. Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, có mặt tại phiên tòa.

7. Ông Lê Văn T, sinh năm 1955; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 06/9/2019, Bị cáo Lê Văn Ti điều khiển xe mô tô BKS 81H1 - 4636 đến nhà ông Nguyễn L để nhậu, đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày Ti điều khiển xe mô tô đến quán của ông Nguyễn N để chơi bi da. Khi đến trước sân quán của ông N thì Ti rồ ga cho xe nổ máy to, thấy vậy anh Nguyễn Đình T đi ra chỗ Tiến nói “mày là Tiến Ba D, mày muốn gì”, Tiến đáp lại “kêu tên cha tôi không được với tôi”. Sau đó anh T đi thụt lùi từ sân vào nhà rồi tựa lưng vào bàn bi da, T thách thức “mày tin tao đánh không”, Ti trả lời “ông đánh tôi thì tôi đánh lại”. Lúc này anh T và Tiến đang đứng đối diện nên anh T dùng tay phải đấm 02 cái trúng vào gò má bên phải của Ti, sau khi bị đánh Ti dùng tay phải đấm một cái trúng vào miệng anh T làm anh T bị ngã lưng trượt theo cạnh bàn bi da và đầu đập xuống nền nhà nằm bất tỉnh, thấy vậy Tiến cùng với Nguyễn Đình T đưa anh T đi cấp cứu tại Trạm y tế xã T rồi chuyển đến Trung tâm y tế huyện Đ, sau đó tiếp tục chuyển xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định chữa trị, nhưng do bị thương nặng đến khoảng 03 giờ sáng ngày 07/9/2019 thì anh Nguyễn Đình T tử vong.

Sau khi Nguyễn Đình T chết, ngày 07/9/2019 các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành lập biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi.

Tại bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học số: 11-19/MBH ngày 09/9/2019 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai kết luận: Hình ảnh vi thể mô bệnh học cho phép kết luận: Nhồi máu, xuất huyết não/bệnh lý xơ vữa động mạch.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 556/GĐPY ngày 10/9/2019 và Công văn ngày 24/9/2019 “giải thích kết luận giám định” của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Đình T: Suy hô hấp do xuất huyết não.

Tại bản cáo trạng số: 01/CT -VKS ngày 12/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Lê Văn Ti về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn Ti phạm tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm e, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử phạt bị cáo Lê Văn Ti từ 05 năm đến 06 năm tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi phạm tội “ Cố ý gây thương tích” của bị cáo xảy ra tại địa bàn huyện Đ, tỉnh Gia Lai nên về thẩm quyền khởi tố điều tra, truy tố và xét xử thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Gia Lai là đúng thẩm quyền. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử Điều tra Viên, Kiểm sát viên và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Xét hành vi của bị cáo: Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 06/9/2019, tại quán của ông Nguyễn N giữa bị cáo và bị hại T xảy ra mâu thuẫn. Sau đó bị hại T dùng tay phải đấm 02 cái trúng vào gò má bên phải của bị cáo, sau khi bị đánh bị cáo dùng tay phải đấm một cái trúng vào miệng anh T làm anh T bị ngã lưng trượt theo cạnh bàn bi da và đầu đập xuống nền nhà nằm bất tỉnh, hậu quả sau đó làm anh T tử vong. Qua lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với mọi tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học số: 11-19/MBH ngày 09/9/2019 của Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai kết luận: Hình ảnh vi thể mô bệnh học cho phép kết luận: Nhồi máu, xuất huyết não/bệnh lý xơ vữa động mạch.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 556/GĐPY ngày 10/9/2019 và Công văn ngày 24/9/2019 “giải thích kết luận giám định” của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai, kết luận nguyên nhân chết của anh Nguyễn Đình T: Suy hô hấp do xuất huyết não.

Mặc dù bị cáo không dung hung khí để gây thương tích cho bị hại, nhưng hành vi của bị cáo dùng tay đánh trúng vào miệng bị hại làm bị hại mất thăng bằng và ngã đập đầu xuống nền nhà gây chấn thương sọ não và dẫn đến hậu quả chết người là do hành vi của bị cáo gây ra. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lê Văn Ti phạm tội “Cố ý gây thương tích” được quy định điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả gây ra cho xã hội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại đồng thời ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Giữa bị cáo và bị hại chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà dẫn đến việc đánh nhau, mặt dù cái chết của bị hại xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, đáng lẽ ra bị cáo phải nhận thức được rằng việc đánh nhau xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng của con người là trái pháp luật, bị cáo có ý thức coi thường pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình.

Xét về lỗi trong vụ án này là do bị hại đã gây chuyện và thực hiện hành vi đánh bị cáo trước, sau đó bị cáo đánh trả lại nhưng việc bị hại ngã đập đầu xuống nền nhà hậu quá dẫn đến cái chết là ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó, xác định lỗi chính trong vụ án này là do bị hại gây nên.

Về nhân thân của bị cáo Ti tốt. Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính gia đình nên áp dụng các các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm e điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi xét tính chất của vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nhưng bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên khi quyết định hình phạt xét thấy cần phải áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[4] Xét về căn cứ áp dụng pháp luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt áp dụng cho bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị tại phiên tòa là tương xứng với hành vi của bị cáo và phù hợp với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị trên. Do đó khi quyết định hình phạt xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để giáo dục, trừng trị người phạm tội.

Về căn cứ áp dụng pháp luật Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là có cơ sở đúng pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện cho gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét để giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Văn Ti phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm e, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Tuyên bố bị cáo Lê Văn Ti phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2] Xử phạt: Lê Văn Ti 05 (không năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày bị cáo tạm giữ, tạm giam là ngày 06/9/2019.

[3] Buộc bị cáo Lê Văn Ti phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[5] Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (10/01/2020) bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền làm đơn kháng cáo bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

Cỡ chữ