vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 15/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Du Thiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Du Thiên L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2019 đến ngày 26/12/2019. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Du Thiên L phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Du Thiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày 15-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,

TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trà Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thu Toàn

Bà Nguyễn Thị Hồng Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy-Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 118/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo: NGUYỄN DU THIÊN L, tên gọi khác: Long C, sinh năm 1993, nơi sinh: Tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Hẻm số 02 đường NCT, tổ 08, phường LHP, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N (chết) và bà Trần Thị H (chết); vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Tháng 7/2017, ngày 01/01/2018 sử dụng trái phép chất ma túy, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPVPHC ngày 22/01/2018 của Công an phường LHP xử lý phạt vi phạm hành chính hình thức: Cảnh cáo; ngày 27/3/2018 Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường số 34/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND phường LHP; ngày 26/6/2018 xác nhận số 75/GCN-UBND của Chủ tịch UBND phường LHP đã chấp hành xong thời hạn giáo dục tại phường theo Quyết định số 34/QĐ-UBND ngày 27/3/2018 của Chủ tịch UBND phường LHP kể từ ngày 27/6/2018; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2019 đến ngày 26/12/2019 hủy bỏ biện pháp tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc H, sinh năm: 1981, địa chỉ: Thôn Long Thành, xã Tịnh Thiện, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Bà Lê Thị L, sinh năm 1970, địa chỉ: Tổ dân phố TTT B, phường TQT, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

2/ Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1993, địa chỉ: Thôn PH, xã BTT, huyện BS, tỉnh QN, vắng mặt.

3/ Ông Hồ Gia B, sinh năm 1978, địa chỉ: Số 118 đường NCP, phường NL, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/11/2019, Nguyễn Du Thiên L cùng với bạn tên Tấn (bạn quen biết ngoài xã hội, không xác định được lai lịch) ở xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đến phòng trọ của ông Nguyễn Trung T trong khu công nghiệp Visip thuộc xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi chơi. Tại đây, L mượn của ông Tâm 01 điện thoại di động hiệu Oppo A83 để gọi điện thoại, sau đó L mang đến tiệm cầm đồ Gia Bảo thế chấp cho ông Hồ Gia B với giá 1.100.000 đồng. L sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân.

Vì không có tiền lấy điện thoại trả cho T nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 21 giờ ngày 17/11/2019, L đi bộ từ nhà ở phường LHP, thành phố Quảng Ngãi theo tuyến quốc lộ 24B về hướng biển Mỹ Khê, thành phố Quảng Ngãi. Đến khoảng 02 giờ ngày 18/11/2019, L đi bộ đến trước cây xăng số 02 Tịnh Khê, nằm trên Quốc Lộ 24B thuộc thôn Tư Cung, xã Tịnh Khê, thành phố Quảng Ngãi thì L phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ trắng, biển số 76K2 – 1912 của ông Huỳnh Ngọc H dựng phía sau cây xăng. L đi đến thấy xe không khóa cổ nên dắt xe ra ngoài đường, L rút dây chìa khóa xe, đạp xe nổ máy rồi điều khiển xe chạy về khu vực Hàng Da thuộc xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, L gặp T, T yêu cầu L trả lại điện thoại, L nói để bán được xe 76K2 – 1912 có tiền sẽ chuộc lại điện thoại trả cho T. L mang xe vào các tiệm thu mua xe cũ từ khu vực xã Tịnh Phong đến huyện Bình Sơn để bán nhưng không ai mua. Lúc này, L không muốn xảy ra mâu thuẫn đánh nhau với T nên L đến Công an huyện Bình Sơn tự thú, khai nhận hành vi trộm cắp xe mô tô 76K2 – 1912 và giao nộp xe mô tô 76K2 – 1912 cho Công an huyện Bình Sơn.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTTTHS ngày 22/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quảng Ngãi kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ, biển số 76K2 – 1912; số máy: 8570238, số khung: 8421850, trị giá: 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTTTHS ngày 09/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Quảng Ngãi kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A83, màu hồng phấn, trị giá: 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Bản cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 26/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố Nguyễn Du Thiên L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173, điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Du Thiên L từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về phần dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc Nguyễn Du Thiên L hoàn trả lại cho ông Hồ Gia B 1.100.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị L, ông Nguyễn Trung T, ông Hồ Gia B đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng họ đã có lời khai trong quá trình điều tra và đã được cơ quan điều tra xác minh nên việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Nguyễn Du Thiên L khai nhận hành vi phạm tội của mình: Vào ngày 18/11/2019 Nguyễn Du Thiên L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 76K2 – 1912 của ông Huỳnh Ngọc H, trị giá tài sản trộm cắp là 3.000.000 đồng.

Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi. Xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Du Thiên L về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ.

Tháng 7/2017, ngày 01/01/2018 bị cáo L sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 22/01/2018 Công an phường Lê Hồng Phong xử phạt vi phạm hành chính hình thức: Cảnh cáo; ngày 27/3/2018 Chủ tịch UBND phường Lê Hồng Phong ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo L để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Du Thiên L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi về hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã tự thú, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi mượn điện thoại di động hiệu Oppo A83 đi thế chấp tại tiệm cầm đồ Gia Bảo, bị cáo L không có ý thức chiếm đoạt tài sản của ông T, giá trị chiệc điện thoại Oppo A83 giá trị 1.000.000 đồng. Do đó, hành vi này của bị cáo L chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi không xử lý hình sự đối với Nguyễn Du Thiên L về hành vi nêu trên là có căn cứ.

Đối với các đối tượng có liên quan trong vụ án:

Đối với hành vi của Nguyễn Trung T: Sau khi gặp L, T không hề biết chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát: 76K2 – 1912 là tài sản do L trộm cắp mà có. Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi không xử lý hình sự đối với Nguyễn Trung T về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

- Đối với chiếc điện thoại di động OPPO A83, màu hồng phấn, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã tạm giữ từ ông Hồ Gia B là chủ dịch vụ cầm đồ Gia Bảo. Ông Hồ Gia B yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền 1.100.000 đồng nên buộc bị cáo L trả lại cho ông B 1.100.000 đồng.

- Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại: Xe mô tô biển kiểm soát: 76K2 – 1912 cho ông Huỳnh Ngọc H nhận lại và không có yêu cầu; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A83, màu hồng phấn đã trả lại cho ông Nguyễn Trung T đã nhận lại và không có yêu cầu.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi đã trả lại: Xe mô tô mang BKS: 76K2 – 1912 cho ông Huỳnh Ngọc H; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A83, màu hồng phấn đã trả lại cho ông Nguyễn Trung T.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí trong vụ án hình sự: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tuyên quyền kháng cáo cho người tham gia tố tụng.

Với những nhận định trên phù hợp với ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Du Thiên L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Du Thiên L 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2019 đến ngày 26/12/2019.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Buộc Nguyễn Du Thiên L hoàn trả lại cho ông Hồ Gia B 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí trong vụ án hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Bị cáo Nguyễn Du Thiên L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Tổng cộng 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng).

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật tố Tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ