- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Như N trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUÂN D THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HS-ST Ngày 21-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Song Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đắc Tuyền
Bà Trần Minh Thư
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Vũ Như N, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị L; có chồng là Nguyễn Văn H và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Bị hại: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều 23/10/2019 chồng N là Nguyễn Văn H rủ các bạn là Trần Văn L, Trần Đình H, Hoàng Văn C, Trần Văn D và Trần Văn Đ cùng trú tại tổ Q phường Đ đến nhà chơi, sau đó sang nhà anh D ở đối diện ăn uống. Khoảng hơn 19 giờ, N đi chơi về thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 15L1- 035.58 của anh Đ dựng trong sân nhà N, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa nên N lấy xe chở con đi chơi sau đó quay về vẫn không thấy ai nên N nảy sinh ý Đ trộm cắp chiếc xe mang đi bán. N đi xe đến hiệu cầm đồ Trọng Tín tại Phúc Hải, phường Đ gặp anh Phạm Anh T hỏi bán nhưng anh T không mua do xe không có giấy tờ, N gửi xe lại nhờ bán hộ. Trưa ngày 24/10/2019 anh T gọi điện bảo N đến lấy xe do không bán được, N đến lấy xe đi đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Trần Văn X nói xe của mình bị mất giấy tờ và thỏa thuận bán cho anh X với giá 3.000.000 đồng, anh X đồng ý hẹn N hôm sau quay lại lấy tiền. Do nghi ngờ chiếc xe là tài sản trộm cắp nên anh X đến cơ quan Công an trình báo và giao nộp 01 xe mô tô BKS 15L1- 035.58. Đến 10 giờ ngày 25/10/2019, N đến cửa hàng anh X lấy tiền thì bị cơ quan Công an yêu cầu về trụ sở làm việc.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 24/10/2019, anh Trần Văn Đ đã làm đơn trình báo đến Công an phường Đ, quận D, Hải Phòng.
Bản Kết luận Đ giá tài sản số 21/KLĐG ngày 01/11/2019 của Hội đồng Đ giá tài sản Tố tụng hình sự quận D kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 15L1-035.58, loại xe Airblade, nhãn hiệu Honda, màu sơn vàng-bạc đã qua sử dụng có giá bán là 19.500.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSDK ngày 21 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận D truy tố bị cáo Vũ Như N về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 15L1-035.58 đã qua sử dụng, đăng ký mang tên Trần Xuân H, sinh năm 1982, trú tại Phúc Hải 1, Đ, D. Anh H đã cho anh Trần Văn Đ mượn làm phương tiện đi lại, đến ngày 23/10/2019 thì bị mất trộm. Anh Trần Văn Đ đã nhận lại chiếc xe mô tô trên và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Trong vụ án này anh Phạm Anh T có hành vi giữ xe mô tô biển kiểm soát 15L1-035.58 N nhờ bán hộ. Tuy nhiên anh T không biết chiếc xe là tài sản do N phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Đối với anh Trần Văn X có hành vi thỏa thuận mua bán xe mô tô biển kiểm soát 15L1-035.58 với N. Tuy nhiên anh X đã nghi ngờ chiếc xe là tài sản do phạm tội mà có đã trình báo ngay với cơ quan Công an kịp thời phát hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có đơn trình bày đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Như N với mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Trộm cắp tài sản". Đề nghị ấn Đ thời gian thử thách đối với bị cáo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không phải xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận Đ như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết Đ tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy Đ của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết Đ của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 23/10/2019, tại nhà bị cáo ở tổ dân phố Q, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Trần Văn Đ, trị giá 19.500.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo thỏa mãn cấu thành tội trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận D truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy Đ tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất vụ án và hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm mới có tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; ngoài ra bị cáo còn đang trong thời gian nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy Đ tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Về hình phạt bổ sung: Vì điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong từ giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử xét không phải xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy Đ của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy Đ của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Như N 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết Đ buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Vũ Như N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các điều 331 và điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vũ Như N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Trần Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND quận D; - VKSND TP Hải Phòng; - Cơ quan điều tra CA quận D; - Cơ quan THAHS quận D; - Phòng HS nghiệp vụ Công an Hải Phòng; - Chi cục THADS quận D; - Sở Tư pháp; - Bị cáo; - UBND nơi bị cáo cư trú, - TAND TP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Song Hải |