vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 14/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Ch(Chè) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Ch(Chè) 36 (ba sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Cây dao, 01 Cây kéo và 01 Cây búa đinh. (Các loại vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, đặc điểm của các loại vật chứng này được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/12/2019 giữa Công an huyện Triệu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Sỹ Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Ch(Chè) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Ch(Chè) 36 (ba sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU PHONG
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST

Ngày: 14-01-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Phước

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngãi và ông Nguyễn Như Tân

- Thư ký Phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Triệu Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đổng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2019/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/HSST ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Sỹ Ch(Tên gọi khác:Chè); sinh năm 1994, tại Quảng Trị. Nơi cư trú: Thôn An H, xã Triệu T, huyện Triệu Ph, tỉnh Quảng Tr; nghề nghiệp: Không nghề; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang Định, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Ánh, sinh năm 1962; đều trú tại: Nơi cư trú: Thôn An H, xã Triệu T, huyện Triệu Ph, tỉnh Quảng Tr;ị; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: 02 tiền án.

- Bản án số 79/2013/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2013 của TAND Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Bản án số 12/2016/HSST ngày 08 tháng 06 năm 2016 của TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999. Thi hành xong ngày 15/01/2019.

Nhân thân:

- Quyết định số 63/QĐ-XPVPHC ngày 12/10/2014 của Chủ tịch UBND xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.

- Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC ngày 03/12/2014 của Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác.

Bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã và hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị từ ngày 09/9/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Trường trung học cơ sở Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Đại diện có ông Nguyễn Triệu Thanh – Phó Hiệu trưởng (Văn bản ủy quyền ngày 24/7/2019 của Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) - Có mặt

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Đức Pháp, sinh 1997; nơi cư trú: Nơi cư trú: Thôn An H, xã Triệu T, huyện Triệu Ph, tỉnh Quảng Tr;ị - Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Hữu Minh Hải, sinh 2001; nơi cư trú: Thôn Phú Liêu, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 06 tháng 7 năm 2019, sau khi ăn cưới xong, Phạm Sỹ Chgọi điện nhờ Nguyễn Đức Pháp điều khiển xe đến đón Chính tại Nơi cư trú: Thôn An H, xã Triệu T, huyện Triệu Ph, tỉnh Quảng Tr;ị, Pháp đồng ý. Pháp điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 74F6-8864 (xe của gia đình Nguyễn Hữu Minh Hải) chở Hải đến đón Chính. Sau đó, Chính điều khiển xe mô tô chở Pháp và Hải lên ngã tư cạnh Trường trung học cơ sở (THCS) Triệu Đông thuộc thôn Nại Cửu, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị thì dừng xe lại. Chính đưa điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của mình nhờ Hải đi cầm cố lấy tiền tiêu xài, Hải đồng ý và điều khiển xe đưa điện thoại đi cầm cố, còn Chính và Pháp đứng chờ. Chính rủ Pháp vào Trường THCS Triệu Đông ngồi cho mát nhưng Pháp không vào. Chính nhảy tường rào vào phía trong khuôn viên của trường, thấy không có ai nên Chính đi đến dãy phòng làm việc của Ban giám hiệu và ngồi ở ghế đá. Lúc này, Chính quan sát thấy cửa ra vào của phòng kế toán bị hở nên nảy sinh ý định đột nhập vào phòng trộm cắp tài sản. Chính đột nhập vào phòng lấy 01 máy in hiệu Canon 2900 màu trắng và 01 máy Scan hiệu Canon Lide 220 màu đen rồi đưa ra cất dấu tại thùng rác ở trong khuôn viên nhà trường. Chính quay lại lấy 01 cây dao, 01 cây kéo và 01 cây búa đinh ở trong phòng kế toán và sử dụng làm công cụ cạy cửa các phòng khác để tìm tài sản trộm cắp nhưng không có. Chính để dao, búa đinh và kéo lại ở phòng họp rồi gọi điện cho Pháp quay lại trường đón Chính về nhà. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Chính gọi điện nhờ Pháp điều khiển xe mô tô đến đón Chính ở cầu Triệu Đông, Pháp đồng ý và điều khiển xe mô tô của gia đình đến đón Chính. Khi gặp nhau, Chính điều khiển xe mô tô chở Pháp đến cạnh tường rào bên phải Trường THCS Triệu Đông, bảo Pháp đứng đợi bên ngoài rồi Chính nhảy tường rào vào phía khuôn viên nhà trường lấy máy in và máy Scan đưa ra cho Pháp cầm. Chính tiếp tục điều khiển xe chở Pháp đến nhà ông Nguyễn Văn Khánh ở thôn An Hưng, xã Triệu Tài, huyện Triệu Phong (nhà bỏ hoang không có người ở), Chính bỏ máy in vào trong võ gối rồi cất dấu trong tủ quần áo, còn máy Scan chính đưa về cất dấu tại phòng ngủ của Chính.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/KLĐG ngày 18/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Triệu Phong, xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt giá trị 01 máy in hiệu Canon 2900 là 2.397.000 đồng và 01 máy Scan hiệu Canon Lide 220 là 2.517.500 đồng. Tổng giá trị chiếm đoạt là 4.914.500 đồng.

Tại bản cáo trạng số 01/QĐ/KSĐT-KT ngày 27/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong truy tố Phạm Sỹ Chvề tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt: Phạm Sỹ Chtừ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Chính.

Về trách nhiệm dân sự: Trường THCS Triệu Đông, huyện Triệu Phong đã nhận lại toàn bộ tài sản và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo, 01 cây dao và 01 cây búa đinh.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của của bị hại nhất trí với lời khai của bị cáo, bản luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án, bản cáo trạng, đủ cơ sở khẳng định: Phạm Sỹ Chính có hai tiền án, cụ thể: Bản án số 79/2013/HSST ngày 16/11/2013 của TAND Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 và Bản án số 12/2016/HSST ngày 08/6/2016 của TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999, chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp tái phạm, tuy nhiên vào ngày 06/7/2019 bị cáo Phạm Sỹ Chlại có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản gồm 01 máy in hiệu Canon 2900 màu trắng và 01 máy Scan hiệu Canon Lide 220 màu đen của Trường THCS Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị với tổng trị giá tài sản là 4.914.500 đồng nên Phạm Sỹ Chđã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung“Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ Luật hình sự.

Điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…g) Tái phạm nguy hiểm.

Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị. Tuy nhiên, trong thời gian qua, trên địa bàn huyện Triệu Phong liên tiếp xảy ra nhiều vụ phạm pháp hình sự về các tội xâm phạm sở hữu, chứng tỏ sự liều lĩnh, coi thường pháp luật của người phạm tội. Trong vụ án này, bị cáo Phạm Sỹ Chlà người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được hậu quả do mình gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Chỉ vì mục đích muốn có tiền để đua đòi, ăn chơi phung phí mà bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, bất chấp luân thường đạo lý, bất chấp sự phẩn nộ của dư luận xã hội để thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo đã làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây bất bình, tâm lý hoang mang, lo lắng của người dân trong đời sống xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm mới đảm bảo tính trừng trị, giáo dục đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.

Bị cáo Phạm Sỹ Chkhông phải chịu tình tiết tăng nặng, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thần khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố bị cáo Phạm Sỹ Chđược Bộ Quốc phòng tặng Kỷ niệm chương vì có nhiều cống hiến xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẽ vang hạng Ba vì đã có thành tích phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 16/11/2013, bị TAND Quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; ngày 12/10/2014 bị Chủ tịch UBND xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác; ngày 03/12/2014 bị Công an huyện Triệu Phong xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác; ngày 08/6/2016 bị TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 135 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo mới chấp hành xong hình phạt 42 tháng tù váo ngày 15/01/2019 nhưng đến ngày 06/7/2019 lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Trường THCS Triệu Đông, huyện Triệu Phong chứng tỏ bị cáo liều lĩnh, coi thường pháp luật nên xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trường THCS Triệu Đông, huyện Triệu Phong đã nhận lại toàn bộ tài sản. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Trường THCS Triệu Đông không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với 01 cây dao lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán nhựa màu đen, lưỡi dài 9,3cm, cán dài 11cm; 01 cây kéo bằng kim loại mũi nhọn, cán bộc nhựa màu xanh dài 21cm và 01 cây búa đinh lưỡi bằng kim loại, dài 12,3cm, cán bằng gổ hình trụ tròn dài 27,4 cm thuộc quyền sở hữu của Trường THCS Triệu Đông, huyện Triệu Phong mà bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện nhà trường không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Tính từ ngày xét xử sơ thẩm, thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày nên cần thiết phải ra quyết định tạm giam bị cáo Phạm Sỹ Chđể đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Đức Pháp, khi bị cáo Chính thực hiện hành vi lấy trộm tài sản tại Trường THCS Triệu Trung thì Pháp không biết, khi Chính có nói với Pháp tài sản do Chính lấy trộm ở trường THCS Triệu Đông thì Pháp có khuyên Chính nên trả lại tài sản do đó Pháp không chịu trách nhiệm về tội trộm cắp tài sản và tội không tố giác tội phạm. Viện kiểm sát không truy tố là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Triệu Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo Phạm Sỹ Chphải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Sỹ Ch(Chè) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Ch(Chè) 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam 09/9/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Cây dao, 01 Cây kéo và 01 Cây búa đinh. (Các loại vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, đặc điểm của các loại vật chứng này được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/12/2019 giữa Công an huyện Triệu Phong và Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong).

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Sỹ Ch phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ