vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 14/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: C c Bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/9/2019). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 04 (bốn) năm 06 (s u) th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/9/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L cùng đồng phạm về tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: C c Bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 357 Bộ luật D n sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN BẮC
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày: 14/01/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Phước Trí

Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Xuân Hiền, ông Trần Thanh Sỹ

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Trần Văn Tùng

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Luân – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở T a n nh n d n huy n Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2019/TLST-HS ngày 20-12-2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 02-01-2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thành L, sinh năm 1990; trú tại: Khu phố X, phường M, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghi p: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Nguyễn Thành H (chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1958.

Tiền án: Ngày 30-7-2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt 07 (bảy) tháng tù về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2017, nhưng chưa thi hành xong hình phạt bổ sung và án phí; Tiền sự: không.

Nhân thân:

+ Ngày 30/7/2009 bị Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục A1, tỉnh Phú Yên trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong ngày 02/11/2011.

+ Ngày 30/6/2015, bị Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt

1

18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2017.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2019 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huy n Thuận Bắc (Bị c o có mặt).

2. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1991; Trú tại: Khu phố X, phường M, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghi p: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Vi t Nam; Con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Xuân L, sinh năm 1974;

Tiền án: Ngày 30-7-2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xử phạt 30 (ba mươi) th ng tù về tội “trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không.

Nh n th n: Ngày 28/04/2008 bị công an phường Đạo Long, TP. Phan Rang.TC xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp xe đạp. Đã chấp hành xong.

Ngày 04/6/2008 bị chủ tịch UBND phường Mỹ Hương, TP Phan Rang-TC ra quyết định p dụng bi n ph p gi o dục tại xã phường trong thời hạn 06 th ng về hành vi trộm cắp xe đạp. Đã chấp hành xong .

Ngày 11/06/2008 bị công an phường Kinh Dinh, TP Phan Rang -TC xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp xe đạp. Đã chấp hành xong.

Ngày 16/03/2009 bị TAND TP Phan Rang- TC xử phạt 09 th ng tù về tội trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong ngày 22/01/2010.

Ngày 04/01/2011 bị TAND quận G Vấp, TP. Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong ngày 25/08/2011.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/9/2019 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huy n Thuận Bắc (Bị c o có mặt).

Người bị hại: bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1972; trú tại: B, xã B, huy n Thuận Bắc, Ninh Thuận ( có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1974; trú tại: Khu phố X, phường Ph, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ( xin xét xử vắng mặt).

+ ông Tô Duy H–Chủ doanh nghi p tư nh n kinh doanh vàng Thu Đ 2. Ông H ủy quyền cho bà Ngô Thị L Th, sinh năm 1973; địa chỉ: số 310 Thống Nhất, phường Ph, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia tố tụng ( xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

2

+ ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1976; trú tại: B, xã B, Thuận Bắc, Ninh Thuận ( vắng mặt).

+ bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1953; trú tại: Khu phố x, phường M, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ( vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 17 giờ ngày 24/09/2019, Nguyễn Thành L rủ Nguyễn Văn Th đi trộm cắp tài sản lấy tiền tiêu dùng thì Th đồng ý. Để thực hi n vi c trộm cắp tài sản, Th mượn của Nguyễn Văn S một xe mô tô hi u Sirius biển số 85B1 – 725.11 và thay bằng biển số 86S2 – 4190 (biển số này Th mua của một người bán phế li u không rõ tên, địa chỉ) chở L tới địa phận huy n Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận tìm tài sản để trộm cắp nhưng không thực hi n được. Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, Th và L ghé vào quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Nh để mua thuốc lá, lúc này L phát hi n trên cổ bà Nh có đeo một sợi dây chuyền màu vàng trên cổ, L nói với Th “d y chuyền kìa” thì Th hiểu L mốn nói là giật dây chuyền của bà Nh. Khi bà Nh đưa thuốc lá cho L và đứng cách L khoảng 01m, L nhoài người dùng tay phải giật sợi dây chuyền trên cổ bà Nh. Thấy L đã giật được sợi dây chuyền thì Th tăng ga bỏ chạy thì bà Nh dùng hai tay nắm lấy áo của L kéo lại, Th vẫn cho xe tiếp tục chạy và kéo theo bà Nh đi khoảng 05m đến 07m thì xe bị ngã, bà Nh cũng ngã xuống đường bị thương tích ở tay và chân. Do có người dân chạy tới nên các đối tượng bỏ lại xe mô tô, 02 đôi dép, 01 c i o và 01 c i mũ bảo hiểm bỏ chạy tẩu tho t. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày Th bị bắt, còn L mang sợi dây chuyền giật được bán cho ti m vàng Thu Đ 2 tại thành phố Phan Rang – Th p Chàm được 7.650.000đ, L gửi bà Nguyễn Thị Ng (là dì ruột) ở phường M, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm số tiền 05.000.000đ, số tiền còn lại L tiêu dùng cá nhân hết. Ngày 25-9-2019 L bị bắt tại tỉnh Bình Thuận.

Bản kết luận định giá tài sản số 08/KLĐGTS ngày 03-10-2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huy n Thuận Bắc kết luận sợ dây chuyền vàng của bà Nh trị gi 12.257.091đ.

Qu trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại: xe mô tô hi u Yamaha loại Sirius cùng biển số 85B1 – 725.11 cho anh Nguyễn Văn S là chủ sở hữu; Trả lại biển số xe 86S2 – 4190 cho anh Trương Văn L ở Bình Thuận là chủ sở

3

hữu; Trả lại 01 o thun, 01 mũ bảo hiểm, 01 đôi dép nhựa màu đen cho Th; Trả lại 01 đôi dép nhựa màu đen trắng cho L.

Tại bản C o trạng số 13/ CT-VKS-TB ngày 20-12-2019, Vi n kiểm s t nh n d n huy n Thuận Bắc đã truy tố Nguyễn Văn Th, Nguyễn Thanh L về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên t a, Đại di n Vi n kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị c o như C o trạng, đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo, xử lý vật chứng, trách nhi m dân sự, án phí hình sự đối với các bị cáo như sau:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 04 năm 06 th ng đến 05 năm tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 04 năm đến 04 năm 06 th ng tù.

Về trách nhi m dân sự: đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữ bị cáo L và người bị hại về vi c L đồng ý tiếp tục bồi thường cho người bị hại 06 tri u đồng.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên không xem xét.

Tại phiên t a, c c bị cáo khai nhận đã thực hi n hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo tranh luận với lời luận tội của đại di n Vi n kiểm sát vì cho rằng vi c truy tố theo tình tiết định khung hình phạt “ Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của BLHS là không đúng vì c c bị cáo không dùng thủ đoạn nào nguy hiểm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào c c tài li u có trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Thuận Bắc, Điều tra viên, Vi n kiểm s t nh n d n huy n Thuận Bắc, Kiểm s t viên trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qu trình điều tra và tại phiên t a, các bị c o, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, c c hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp ph p.

4

[2] Tại phiên t a, lời khai của các bị c o phù hợp với lời khai trong qu trình điều tra, phù hợp lời khai người bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản kh m nghi m hi n trường và c c tài li u kh c có trong hồ sơ vụ n. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/09/2019 Nguyễn Văn Th dùng xe mô tô chở Nguyễn Thành L đến trước qu n tạp hóa bà Nguyễn Thị Nh, khi thấy bà Nh có dây chuyền bằng vàng đeo trên cổ thì L ngồi trên xe giật d y chuyền c n Th điều khiển xe bỏ chạy nhưng bị bà Nh cầm o kéo lạị rồi té ngã, sau đó hai bị cáo bỏ lại xe mô tô rồi tẩu tho t. Vì vậy, Vi n kiểm s t nh n d n huy n Thuận Bắc truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn Th về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ph p luật.

[3] Xét thấy các bị c o có đầy đủ năng lực tr ch nhi m hình sự, hành vi của các bị c o là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp ph p của người kh c được ph p luật bảo v , g y ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội tại địa phương. C c bị c o có nh n th n xấu, có tiền n, biết rõ hành vi của mình là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hi n, điều này thể hi n c c bị c o rất coi thường ph p luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải c ch ly c c bị c o ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và gi o dục bị c o, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và ph ng ngừa chung.

Trong vụ n này Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn Th đồng phạm về tội “Cướp giật tài sản” nên cần ph n tích tính chất mức độ phạm tội của các bị c o để có cơ sở cho vi c lượng hình. Đây là vụ án có tính đồng phạm giản đơn, L là người khởi xướng rũ rê, vai trò của L cao hơn so với Th nên L phải chịu mức án cao hơn so với Th.

[4] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Hành vi nêu trên của c c bị c o đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Khi phạm tội, c c bị c o Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn Th sử dụng xe mô tô làm phương ti n thực hi n hành vi chiếm đoạt tài sản nên thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

[5] Về c c tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tr ch nhi m hình sự:

C c bị c o Nguyễn Thành L và Nguyễn Văn Th có chung tình tiết tăng nặng là “ T i phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS. Trong quá trình điều tra và tại phiên t a, c c bị c o thành khẩn khai b o nên được p dụng tình tiết giảm nhẹ chung quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[6] Đối với anh Nguyễn Văn S khi cho Th mượn xe mô tô nhưng không biết Th dùng vào vi c phạm tội; đối với bà Ng nhận giữ số tiền 5.000.000đ nhưng

5

không biết số tiền này là do L bán tài sản do phạm tội mà có; đối với Doanh nghi p tư nh n kinh doanh vàng Thu Đ 2 khi mua sợi dây chuyền L đem b n cũng không biết đ y là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng ph p luật.

Đối với anh Nguyễn Văn S đã nhận lại xe mô tô hi u Yamaha loại Sirius cùng biển số 85B1 – 725.11, không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xét. Đối với ông Tô Duy H–Chủ doanh nghi p tư nh n kinh doanh vàng Thu Đ 2 không có ý kiến, yêu cầu gì nên không xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại: 01 xe mô tô hi u Yamaha loại Sirius cùng biển số 85B1 – 725.11 cho anh Nguyễn Văn S là chủ sở hữu; Trả lại biển số xe 86S2 – 4190 cho anh Trương Văn L ở Bình Thuận là chủ sở hữu; Trả lại 01 o thun, 01 mũ bảo hiểm, 01 đôi dép nhựa màu đen cho Th; Trả lại 01 đôi dép nhựa màu đen trắng cho L là có căn cứ.

[8] Về trách nhi m dân sự: Bà Ng đã mang nộp số tiền 5.000.000đ (tiền L bán sợi dây chuyền gửi bà Ng) đã trả lại cho bà Nh, bà Nh tiếp tục yêu cầu Th và L bồi thường thi t hại số tiền 6.000.000đ, L đồng ý tự mình bồi thường số tiền 6.000.000đ cho bà Nh, không yêu cầu Th có trách nhi m cùng liên đới. Đ y là sự tự nguy n thỏa thuận không trái quy định pháp luật nên được công nhận.

[9] Xét quan điểm xử lý của Vi n Kiểm s t hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, c c tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tr ch nhi m hình sự. Do bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương ti n thực hi n hành vi phạm tội nên Vi n Kiểm s t truy tố theo tình tiết định khung “ Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của BLHS. Vấn đề này được hướng dẫn chi tiết tại tiểu mục 5.3 mục 5 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT -TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của T a n nh n d n tối cao, Vi n kiểm sát nhân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, như truy tố của Vi n kiểm s t là có căn cứ. Quan điểm về đối tượng có liên quan, về tr ch nhi m d n sự và xử lý vật chứng của Vi n kiểm s t nh n dân là có căn cứ, đúng ph p luật nên chấp nhận.

Vì vậy, không chấp nhận lời bào chữa của các bị cáo vì cho rằng mình không dùng thủ đoạn nào nguy hiểm nên không đồng ý theo quan điểm truy tố của Vi n kiểm sát về tình tiết định khung “ Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của BLHS.

[10] Về n phí:

Về n phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban

6

thường vụ Quốc hội quy định về n phí, l phí T a n. Các Bị c o, mỗi người phải chịu 200.000đ n phí hình sự sơ thẩm.

Về n phí d n sự sơ thẩm: Do phần tr ch nhi m d n sự, qu trình điều tra bị cáo L và người bị hại đã thỏa thuận được vi c bồi thường nên bị c o L không phải chịu n phí d n sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 2 (điểm d) Điều 171; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, đểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị c o L và Th.

Tuyên bố: C c Bị cáo Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn Th phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/9/2019).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th 04 (bốn) năm 06 (s u) th ng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 25/9/2019).

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS; c c Điều 585, 589, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật D n sự.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị c o Nguyễn Thành L và những người bị hại bà Nguyễn Thị Nh về vi c bồi thường thi t hại do tài sản bị x m phạm. Buộc Nguyễn Thành L phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Nh số tiền c n lại là 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành n của người được thi hành n cho đến khi thi hành xong tất cả c c khoản tiền, hàng th ng người phải thi hành n c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành n theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS tương ứng với thời gian chưa thi hành n.

Người được thi hành n và người phải thi hành n d n sự có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguy n thi hành n hoặc bị cưỡng chế thi hành n theo quy định tại c c điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành n d n sự; thời hi u thi hành n được thực hi n theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành n d n sự.

Về án phí hình sự:

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và l phí Tòa án. C c bị c o Nguyễn Thành L, Nguyễn Văn Th, mỗi bị c o phải chịu n phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

7

Án xử sơ thẩm, công khai, có mặt các bị c o, Người bị hại, có quyền kh ng c o bản n trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên n (ngày 14/01/2020). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kh ng c o bản n trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản n được tống đạt hợp l .

Cỡ chữ