vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế ViệtA 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2019. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo v. A - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày 15 - 01 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đức Trí

Ông Nguyễn Danh T2

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tho Xuân, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2019/HSST-QĐ ngày 25/12/2019;

Đối với bị cáo: Nguyễn Thế ViệtA (tên gọi khác: Lỗ), sinh ngày 09 tháng 8 năm 1997 tại: phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số nhà 05 L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế Tr (đã chết) và bà Hồ Thị Th; hiện đang sinh sống như vợ chồng với chị Lê Thị Thanh H và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2019; có mặt.

- Bị hại:A Trịnh Khắc T1, sinh năm 1997, địa chỉ: thôn Mỹ Thượng 2, xã Bắc Lương, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1.A Trịnh Tiến D, sinh năm 1997, địa chỉ: thôn Tỉnh Thôn 1, xã Xuân Hòa, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

2.A Nguyễn Nam G, sinh năm 2000, địa chỉ: thôn Minh Thành 1, xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

3.A Cao Đăng T2, sinh năm 2001, địa chỉ: Thôn Sơn T2, phường Trường Sơn, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

4.A Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1991, địa chỉ: khu 3, thị trấn Thọ Xuân, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 30/6/2019, Trịnh Tiến D điều khiển xe máy Yamaha Exciter biển kiểm soát 36D - 339.90 chở Nguyễn Thế ViệtA từ cửa hiệu cầm đồ Ngọc V thuộc khu 5, thị trấn Thọ Xuân đi chơi dạo mát về hướng xã Bắc Lương theo đường quốc lộ 47C. Trước khi đi ViệtA có mang theo 01 khẩu súng ngắn, loại súng tự chế đã lắp đạn bỏ vào túi quần bên phải. Khi đến đoạn đường đầu xã Bắc Lương, D quay vòng lại đi về hướng thị trấn Thọ Xuân thì gặp 01 xe máy đi ngược chiều doA Trịnh Khắc T1 điều khiển có lấn sang phần đường ngược chiều và tạt vào đầu xe do D điều khiển, nhưng D tránh được. Thấy vậy, ViệtA liền rút khẩu súng mang theo cầm bằng tay phải, vòng tay qua người hướng về phíaA T1 đang điều khiển xe trên đường nổ súng thì đạn trúng vào phía sau đầu tại vùng chẩm sau tai trái củaA T1 làmA T1 bị thương. D vẫn tiếp tục điều khiển xe đi về cửa hiệu cầm đồ Ngọc V; trên đường đi ViệtA mới nói cho D biết việc ViệtA là người vừa mới nổ súng bắn. Sau đó ViệtA đã bỏ trốn đến ngày 04/10/2019 thì bị bắt tạm giam.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối vớiA Trịnh Khắc T1 lập hồi 23 giờ 30 phút ngày 30/6/2019 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thọ Xuân thể hiện: phía sau đầu tại vùng chẩm - sau tai trái có 01 vết thương thủng da đầu, dạng lỗ tròn, đường kính 0,5cm (vết thương đã được khâu xử lý).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân đã trưng cầu giám định thương tích đối vớiA Trịnh Khắc T1 theo quy định. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 380/2019/TTPY ngày 15/7/2019 của Trung tâm pháp y Thanh Hóa kết luận: Sẹo vết thương phần mềm vùng chẩm đầu phía sau tai trái, số lượng sẹo ít, kích thước nhỏ; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối vớiA Trịnh Khắc T1 là 3%.

Quá trình xử lý vết thương củaA Trịnh Khắc T1 tại Bệnh viện đa khoa huyện Thọ Xuân đã lấy ra từ vết thương củaA T1 01 mảnh kim loại mầu xám đen có hình trụ tròn dài 1,2cm, đường kính ngoài (chỗ rộng nhất) 06mm, bề mặt có vết cà xước kim loại. Xác định là tang vật liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định theo quy định. Tại bản kết luận giám định số 1681/PC09 ngày 09/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “01 mảnh kim loại màu xám đen gửi giám định là đầu đạn cỡ 5,6mm (đầu đạn thể thao) - không phải đạn quân dụng, loại đạn này sử dụng cho súng thể thao có cỡ nòng 5,6mm hoặc các loại súng tự chế như: súng kiểu hình bút, súng ngắn kiểu ổ quay…”.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thế ViệtA đã tự nguyện giao nộp 10.000.000 đồng để bồi thường choA T1, nhưngA T1 từ chối nhận trước số tiền này, nên Cơ quan điều tra thu giữ và chuyển Cơ quan thi hành án dân sự quản lý theo quy định.

Đối với khẩu súng Nguyễn Thế ViệtA dùng để bắnA Trịnh Khắc T1; quá trình điều tra ViệtA khai là nhặt được ở khu vực gần cây xăng quân đội phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa; trong quá trình bỏ trốn ViệtA khai đã ra cầu Hàm Rồng ném xuống sông Mã. Cơ quan điều tra đã truy tìm, nhưng không thu giữ được.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 36D - 339.90 xác định thuộc quyền sở hữu củaA Nguyễn Ngọc V không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên Cơ quan đã trả lại choA Nguyễn NgọcV.

Về phần dân sự:A T1 điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Thọ Xuân từ ngày 30/6/2019 đến 02/7/2019 thì xuất viện, kê khai yêu cầu bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải bồi thường tổng số tiền là 33.740.000 đồng.

Tang vật thu giữ: 01 mảnh kim loại màu xám đen có hình trụ tròn dài 1,2cm, đường kính ngoài (chỗ rộng nhất) 06mm, bề mặt có vết cà xước kim loại được niêm phong trong phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Hiện đang được quản lý, nhập kho vật chứng theo quy định.

Đối với 03 đĩa DVD-R, nhãn hiệu maxell có chứa hình ảnh được trích xuất từ camera giám sát đặt trước quán Karaoke Tuấn T1, hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSTX ngày 21/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế ViệtA về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu và khai nhận: do có va chạm xe máy khi đi dạo phố, sợ bị người khác đuổi đánh, nên bị cáo có dùng súng bắn về phía xe máy (quá trình điều tra bị cáo mới biết là xe máy doA T1 điều khiển) gây nên thương tích choA Trịnh Khắc T1 phải đi điều trị tại Bệnh viện. Bị cáo có ý kiến đồng ý bồi thường choA T1 số tiền 33.740.000 đồng, đúng theo như yêu cầu bồi thường củaA T1.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng: điểm a, i khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thế ViệtA từ 07 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải bồi thường choA Trịnh Khắc T1 số tiền 33.740.000 đồng; được trừ đi 10.000.000 đồng bị cáo đã tự nguyện giao nộp để bồi thường; như vậy bị cáo còn phải bồi thường tiếp choA T1 số tiền là 23.740.000 đồng.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh kim loại màu xám đen có hình trụ dài 1,2cm, đường kính ngoài (chỗ rộng nhất) 06mm, bề mặt có vết cà xước kim loại được niêm phong trong phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định về thương tích, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 30/6/2019, khiA Trịnh Tiến D điều khiển xe máy chở Nguyễn Thế ViệtA đi chơi dạo mát theo đường quốc lộ 47C, khi đi về đến đoạn đường đối diện quán đồ gổ Tỉnh Lài thuộc địa phận thôn Mỹ Thượng, xã Bắc Lương, huyện Thọ Xuân có xảy ra va chạm với xe máy đi ngược chiều (bị xe máy đi ngược chiều lấn phần đường và tạt đầu xe máy doA D điều khiển), Nguyễn Thế ViệtA đã có hành vi dùng súng bắn về phía xe máy doA Trịnh Khắc T1 điều khiến trúng vào vùng chẩm đầu phía sau tai tráiA T1, gây thương tích choA T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%. Hành vi của bị cáo thể hiện bản tí nh côn đ ồ hung hã n, bất chấp, coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe người khác.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo được thực hiện do cố ý, gây thương tích cho người khác bằng súng tự chế là “V khí nguy hiểm” và thực hiện hành vi “có tính chất côn đồ”, cùng với hậu quả gây tổn thương cơ thể choA Trịnh Khắc T1 là 3%. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thế ViệtA đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vụ án xảy ra đã gây nên tâm lý hoang mang bất bình trong nhân dân, đồng thời gây mất trật tự trị an, làm ảnh hưởng đến an toàn xã hội. Bị cáo chỉ vì có mâu thuẫn nhỏ nhặt khi tham gia giao thông đã không có cách ứng xử phù hợp, không kìm chế được bản thân, mà có hành vi sử dụng súng tự chế gây nên thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo thể hiện sự ngang ngược, coi thường các quy tắc trong cuộc sống, coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, biết rõ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện, phạm tội lần này thuộc trường hợp có tính chất côn đồ. Vì vậy, cầ n phả i xử lý vụ án nghiêm minh , bắt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục đối với bị cáo, đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội có tính chất côn đồ”, nhưng do đã áp dụng làm tình tiết định khung hình phạt, nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra để thực hiện việc bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại do trong giai đoạn điều tra, truy tố bị hại từ chối nhận trước tiền bồi thường, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: cần thiết xử phạt bị cáo ở mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt. Tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:A T1 bị thương tích phải đi điều trị tại Bệnh viện, kê khai yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền là 33.740.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nayA T1 vắng mặt, nhưng trước đó đã có đơn kê khai yêu cầu bồi thường lưu giữ trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo ViệtA có ý kiến đồng ý bồi thường choA T1 toàn bộ số tiền 33.740.000 đồng đúng như yêu cầu bồi thường củaA T1. Do đó Hội đồng xét xử vẫn xem xét vấn đề dân sự trong cùng vụ án, buộc bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải bồi thường choA Trịnh Khắc T1 số tiền là 33.740.000 đồng. Bị cáo ViệtA đã nộp 10.000.000 đồng để tự nguyện thực hiện việc bồi thường choA T1. Như vậy bị cáo Nguyễn Thế ViệtA còn phải bồi thường tiếp choA Trịnh Khắc T1 số tiền là 23.740.000 đồng.

Đối với số tiền bị cáo Nguyễn Thế ViệtA đã tự nguyện nộp để thực hiện việc bồi thường choA T1, hiện đang quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, cần tuyên giao trả choA Trịnh Khắc T1.

Về vật chứng vụ án: 01 mảnh kim loại màu xám đen có hình trụ tròn dài 1,2cm, đường kính ngoài (chỗ rộng nhất) 06mm, bề mặt có vết cà xước kim loại, được niêm phong trong phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa là đầu đạn (đầu đạn thể thao), liên quan đến tội phạm và hiện không còn giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy. Vật chứng trên hiện đang được quản lý theo đúng quy định của pháp luật.

Đối với 03 đĩa DVD-R, nhãn hiệu maxell có chứa hình ảnh được trích xuất từ camera giám sát đặt trước quán Karaoke Tuấn T1, hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án là phù hợp.

Về các tình tiết liên quan đến vụ án:

Đối với khẩu súng Nguyễn Thế ViệtA dùng bắnA Trịnh Khắc T1, theo ViệtA khai: là nhặt được ở khu vực gần cây xăng quân đội phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa; trong quá trình bỏ trốn ViệtA đã ra cầu Hàm Rồng ném xuống sông Mã. Cơ quan điều tra đã truy tìm theo quy định, nhưng không thu giữ được; tuy nhiên quá trình điều tra đã đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ, sử dụng súng tự chế của Nguyễn Thế ViệtA, nên cần kiến nghị Cơ quan điều tra xem xét đề nghị người có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thế ViệtA theo quy định về hành vi trên.

Đối với chiếc xe máy Yamaha Exciter, biển kiểm soát 36D - 339.90 quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu củaA Nguyễn Ngọc V, không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan điều tra đã trả lại choA V là phù hợp.

Đối với Trịnh Tiến D là người điều khiển xe máy chở Nguyễn Thế ViệtA đi chơi dạo mát. Qúa trình điều tra xác định:A D không được trao đổi, bàn bạc và không biết việc ViệtA mang theo súng dùng bắnA T1 bị thương tích, nên Cơ quan điều tra không xử lý trách nhiệm là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế ViệtA 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/10/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải bồi thường choA Trịnh Khắc T1 tổng số tiền là 33.740.000 đồng; Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thế ViệtA đã bồi thường được 10.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thế ViệtA còn phải bồi thường tiếp choA Trịnh Khắc T1 số tiền là 23.740.000 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).

Anh Trịnh Khắc T1 được nhận số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) do Nguyễn Thế ViệtA đã tự nguyện giao nộp, theo Biên lai thu tiền số AA/2011/00381 ngày 25/11/2019 và Phiếu thu số PT 86 ngày 25/11/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về kiến nghị xử lý hành chính: Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân đề nghị người có thẩm quyền xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thế ViệtA về hành vi “tàng trữ, sử dụng súng tự chế” theo quy định của pháp luật.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh kim loại màu xám đen có hình trụ tròn dài 1,2cm, đường kính ngoài (chỗ rộng nhất) 06mm, bề mặt có vết cà xước kim loại, được niêm phong trong phong bì của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/11/2019, Phiếu nhập kho số PNK 08 ngày 25/11/2019.

5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế ViệtA phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.187.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 1.387.000 đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ