vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 14/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo C T D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo C T D 12 (Mười hai) tháng tù. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo C T D 45 ngày để đảm bảo thị hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo C T D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MINH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày: 14/01/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Quốc Hoàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Thanh Toàn

Ông: Đinh Minh Tặng

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hà–Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020đối với bị cáo:

C T D (Tên gọi khác: Ch), sinh ngày: 13 tháng 7 năm 1994 tại: Xã X H, huyện M H, tỉnh Q B. Nơi cư trú: Bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông C V M và bà Đ T K; vợ, con: Chưa có; Nhân thân: ngày 21/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa tuyệt phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 06/11/2019 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở D H – Đại diện theo pháp luật là ông N V C (vắng mặt)

Địa chỉ: Bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B.

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đ T K (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T L, xã H, huyện M H, tỉnh Q B

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ, ngày 01/11/2019 C T D (tên gọi khác: “Ch”), sinh năm 1994 ở bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B, do không có tiền để tiêu xài cá nhân nên D đã nảy sinh ý định đột nhập vào Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở D H, thuộc bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B để lấy trộm tài sản mang đi bán lấy tiền tiêu xài. D đã chuẩn bị 01 (một) chiếc kìm bằng kim loại bỏ vào túi quần bên trái và đi bộ một mình vào quán Bi - A của anh D1 (tên thường gọi là: “D1 Mít”) ở bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B ngồi chơi một mình. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày D đã lén lút đột nhập vào Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở D H thuộc bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B dùng kìm phá khóa Phòng tham vấn tâm lý học đường lấy trộm 01 (một) chiếc Tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng. Sau đó D mang về cất giấu tại nhà cũ của bà nội D (ngôi nhà này hiện không có người ở) tại bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Nhưng chưa tiêu thụ được thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa phát hiện, thu giữ chiếc Tivi do D trộm cắp mà có.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 34/KLĐG-HĐĐG ngày 06/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện Minh Hóa kết luận: Chiếc tivi nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm trộm cắp là: 3.640.000 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu anh Đ X H đã nhận lại tài sản là 01 (Một) Chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen và không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa tạm giữ:

- 01 (Một) Chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy móc bên trong.

- 01 (Một) kìm bằng kim loại, dài 20cm, cán bọc bằng nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng.

Cáo trạng số 02/CT-VKSNDMH ngày 02/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố bị cáo C T D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố cũng như đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo C T D từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Căn cứ vào kết quả thẩm vấn công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên toà; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên toà bị cáo đã nhất trí hoàn toàn với nội dung bản cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng, qua đó cho thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Minh Hóa, Viện kiểm sát huyện Minh Hóa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2] Hành vi của bị cáo: Vào ngày 01/11/2019 C T D đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc tivi trị giá 3.640.000 đồng tại Trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở D H thuộc bản Y L, xã D H, huyện M H, tỉnh Q B.

Tại phiên tòa bị cáo C T D đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa. Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đưa ra quan điểm xét xử vụ án là có căn cứ nên chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo C T D phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét tính chất hành vi, hậu quả do bị cáo gây ra vụ án cho thấy: Đây là hành vi phạm tội có tính chất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật. Vì vậy hành vi trên cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm minh nhằm trừng trị, cải tạo thành người tốt và răn đe, giáo dục chung trong xã hội.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo C T D có nhân thân xấu, ngày 21/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa tuyệt phạt 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội trộm cắp tài sản.

Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, thấy được lỗi lầm của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cho bị cáo cải tạo trở thành người tốt. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được tính khoản hồng của Pháp luật Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện theo ủy quyền anh Đ X H đã nhận lại tài sản là 01 (Một) Chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen và không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên miễn xét.

Về vật chứng vụ án gồm:

- 01 (Một) Chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy móc bên trong.

- 01 (Một) kìm bằng kim loại, dài 20cm, cán bọc bằng nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng.

Ngày 12/12/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa đã trả lại tài sản là vật chứng trong vụ án là 01 (Một) Chiếc tivi màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, 43 inch, màu đen, đã qua sử dụng cho đại diện của bị hại trường phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở D H là anh Đ X H. Việc xử lý vật chứng này của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Minh Hóa là đúng quy định pháp luật nên không xem xét

Đối với vật chứng còn lại căn cứ điểm a khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho chị Đ T K vật chứng sau:

- 01 (Một) kìm bằng kim loại, dài 20cm, cán bọc bằng nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng.

Vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

. Về hình phạt bổ sung: Không

Về án phí: Bị cáo C T D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo C T D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, Điều 51, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo C T D.

Xử phạt bị cáo C T D 12 (Mười hai) tháng tù.

Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo C T D 45 ngày để đảm bảo thị hành án.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 3, Điều 106 BLTTHS trả lại cho chị Đ T K vật chứng sau:

- 01 (Một) kìm bằng kim loại, dài 20cm, cán bọc bằng nhựa màu đỏ - đen, đã qua sử dụng.

Số vật chứng trên đã đựơc chuyển giao vàhiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 07/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Minh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa ánbuộc bị cáo C T D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/01/2020) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ