vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai Tuyên án 17/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Bị cáo Vũ Xuân N 7 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (31/8/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Xuân N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày: 17/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Yun

Ông Trần Trọng Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà hạm Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2020 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2019/TLST-HS, ngày 27 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 đối với Bị cáo:

Vũ Xuân N (Tên gọi khác: Không)

Sinh ngày 20 tháng 8 năm 1981 tại huyện Cư út, tỉnh Đăk Nông

Trú tại: Làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai.

Nghề nghiệp: Thợ làm bánh mì; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Kim T (Đã chết) và bà Hoàng Thị - Sinh năm: 1956. Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình, có vợ là hạm Thị Thanh N – Sinh ngày: 15/9/1980 và 02 người con sinh năm 2011 và năm 2015, hiện trú tại: Làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai: Theo Danh chỉ bản số 36 do Công an huyện Mang Yang lập ngày 16/9/2019.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai từ ngày 31/8/2019 đến nay (Có mặt).

Người bị hại:

1/ Lê Diễm S – Sinh năm: 1993 (Vắng mặt)

Trú tại: Làng Đ, xã K, huyện Mg, tỉnh Gia Lai.

2/ La Văn Lộc – Sinh năm: 1996 (Vắng mặt)

Trú tại: Làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai.

Những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Lê Văn Nguyên – Sinh năm: 2000 (Vắng mặt)

Trú tại: Làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai.

2/ Phạm Thị Thanh Nga – Sinh năm: 1980 (Có mặt)

Trú tại: Làng Đ, xã K, huyện M, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 01/5/2019 La Văn L đến nhà Vũ Xuân N nhậu. Trên đường đi L gặp rủ thì Lê Văn N đồng ý. Khi đến, L bảo Lê Văn N đi mua 01 thùng bia. Thấy vậy, chị hạm Thị Thanh N (vợ của Vũ Xuân N) đi mua mồi. Sau đó Vũ Xuân N, La Văn L và Lê Văn N ngồi nhậu khoảng 20 phút thì N điều khiển xe Mô tô đi chở Lê Diễm S (anh trai N) đến nhậu. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày Lê Văn N rủ Vũ Xuân N đi hát Karaoke, N không đi mà mở Karaoke tại nhà để mọi người vừa hát vừa nhậu. Lúc chuẩn bị về Lê Văn N mời Vũ Xuân N riêng một ly bia rồi bắt tay nắm chặt và khoác vai ôm ghì Vũ Xuân N lâu nên Nô hỏi: “ Bọn mày có âm mưu gì?” rồi đi xuống bếp mang 02 con dao trong đó: 01 con dao lưỡi kim loại, cán gỗ, chiều dài sống dao 16cm, lưỡi dao có chiều rộng lớn nhất 0,6cm, nhỏ nhất 4,5cm, Cán dao có kích thước (11,5 x 1,5 x 2,5)cm. Lưỡi dao được gắn với cán dao bằng hai vòng kim loại; 01 con dao làm bằng kim loại dài 33,7cm, lưỡi dao có kích thước (6,8 x 23,9)cm. Cán dao có kích thước (9,8 x 2,5)cm. hần tiếp giáp giữa lưỡi dao và cán dao rộng 3,3cm lên đuổi L, N, S ra khỏi nhà, cầm dao đuổi theo N, S thì N chạy ra đường lấy cây gỗ phóng lại N nhưng không trúng, còn S chạy đến hiên nhà thì vấp ngã nên Vũ Xuân N sử dụng dao chém trúng vào khủy tay phải của S. Riêng L vẫn đứng ở cửa nhà không chịu về. Thấy vậy, chị hạm Thị Thanh N can ngăn thì nhìn thấy La Văn L có dao dấu trong tay áo phần trên ngực nên nói với Vũ Xuân N là L có dao. Nghe vậy, Vũ Xuân N dùng dao đến chém L trúng vào lưng. Lúc này, Lê Văn Ng nhặt 01 khúc gỗ nữa ném về phía Vũ Xuân N rồi bỏ chạy. Sau đó La Văn L và Lê Diễm S được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, đến ngày 06/5/2019 thì xuất viện.

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 112/2019/TgT ngày 04/6/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận tỷ lệ thương tật của bị hại La Văn L như sau: Một sẹo vết thương phần mềm nằm ngang vùng thắt lưng kích thước (11x0,3)cm, sẹo liền: 3% (Bút lục số: 57).

- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 113/2019/TgT ngày 04/6/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận tỷ lệ thương tật của bị hại Lê Diễm S như sau: Một sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài sau từ 1/3 dưới cánh tay đến mỏm khuỷu tay phải kích thước (11x0,3)cm, sẹo liền 3%.

Ghi chú: Đứt gân duỗi cẳng tay quay phải + đứt cơ nhị đầu trong Thông tư: 20/2014/TT - BYT không có mục hướng dẫn áp tỉ lệ phần trăm sức khỏe (Bút lục số: 65).

+ Về vật chứng của vụ án:

- 01 con dao lưỡi kim loại, cán gỗ, chiều dài sống dao 16cm, lưỡi dao có chiều rộng lớn nhất 0,6cm, nhỏ nhất 4,5cm, Cán dao có kích thước (11,5 x 1,5 x 2,5)cm. Lưỡi dao được gắn với cán dao bằng hai vòng kim loại.

- 01 con dao làm từ bằng kim loại dài 33,7cm, lưỡi dao có kích thước (6,8 x 23,9)cm. Cán dao có kích thước (9,8 x 2,5)cm. hần tiếp giáp giữa lưỡi dao và cán dao rộng 3,3cm.

- 01 khúc gỗ kích thước (115 x 15)cm.

- 01 khúc gỗ có kích thước (120 x 12)cm.

+ Về phần bồi thường dân sự: Sau khi gây thương tích, Bị cáo cùng vợ đã bồi thường toàn bộ theo yêu cầu cho người bị hại La Văn L số tiền 20.000.000 đồng, Lê Diễm S số tiền 15.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKS, ngày 26 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai truy tố Bị cáo Vũ Xuân N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Xuân N về tội “Cố ý gây thương tích” và áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt Bị cáo Vũ Xuân N mức án từ 6 (Sáu) đến 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (31/8/2019).

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy vật chứng là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Đề nghị tuyên buộc Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được quay về với gia đình và xã hội.

Ý kiến của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Thanh N: Xin giảm nhẹ hình phạt để chồng tôi sớm có điều kiện tiếp tục làm ăn, chăm lo gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra: Điều tra viên Công an huyện Mang Yang, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và các đương sự trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Xét hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định:

Trong lúc uống rượu Lê Văn N mời riêng Vũ Xuân N một ly bia rồi bắt tay nắm chặt và khoác vai ôm ghì lâu nên N bực tức và ngh N, S, L đến uống rượu rồi tạo lý do để đánh N vì trước đây giữa N và L có mâu thuẫn trong công việc kinh doanh làm bán bánh mì nên N đi xuống bếp lấy 02 con dao lên đuổi N, S, L về nhưng bị N dùng cây ném và biết L có mang theo dao nên N chém một nhát vào khủy tay phải của S khi Sơn vấp ngã gây 3% thương tích, N quay lại hiên nhà chém một nhát vào lưng của L gây 3% thương tích là phạm tội. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang truy tố Bị cáo Vũ Xuân N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét về tính chất vụ án thì thấy rằng: Sức khỏe của con người là vốn quý được pháp luật tuyệt đối bảo vệ, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt mà Bị cáo dùng hai con dao chém gây thương tích cho La Văn L và Lê Diễm S là dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ, hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật, gây xôn xao dư luận, làm ảnh hưởng xấu và mất trật tự trị an trên địa bàn, trong quần chúng nhân dân. Cho nên, phải lên cho Bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, cách ly Bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội đã bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả đã gây ra, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần được áp dụng giảm nhẹ một phần hình phạt để Bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật mà tích cực học tập, cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Những Người bị hại không yêu cầu Bị cáo phải tiếp tục bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy những vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng gồm:

- 01 con dao lưỡi kim loại, cán gỗ, chiều dài sống dao 16cm, lưỡi dao có chiều rộng lớn nhất 0,6cm, nhỏ nhất 4,5cm, Cán dao có kích thước (11,5 x 1,5 x 2,5)cm. Lưỡi dao được gắn với cán dao bằng hai vòng kim loại.

- 01 con dao làm từ bằng kim loại dài 33,7cm, lưỡi dao có kích thước (6,8 x 23,9)cm. Cán dao có kích thước (9,8 x 2,5)cm. hần tiếp giáp giữa lưỡi dao và cán dao rộng 3,3cm.

- 01 khúc gỗ kích thước (115 x 15)cm.

- 01 khúc gỗ có kích thước (120 x 12)cm.

Về án phí: Bị cáo Vũ Xuân N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tội danh: Tuyên bố Bị cáo Vũ Xuân N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Bị cáo Vũ Xuân N 7 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (31/8/2019).

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ hủy những vật chứng là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2020 giữa Công an huyện Mang Yang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Yang gồm:

- 01 con dao lưỡi kim loại, cán gỗ, chiều dài sống dao 16cm, lưỡi dao có chiều rộng lớn nhất 0,6cm, nhỏ nhất 4,5cm, Cán dao có kích thước (11,5 x 1,5 x 2,5)cm. Lưỡi dao được gắn với cán dao bằng hai vòng kim loại.

- 01 con dao làm từ bằng kim loại dài 33,7cm, lưỡi dao có kích thước (6,8 x 23,9)cm. Cán dao có kích thước (9,8 x 2,5)cm. hần tiếp giáp giữa lưỡi dao và cán dao rộng 3,3cm.

- 01 khúc gỗ kích thước (115 x 15)cm.

- 01 khúc gỗ có kích thước (120 x 12)cm.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc Bị cáo Vũ Xuân N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (17/02/2020) Bị cáo, Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với những Người bị hại và Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ