- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Xuân- Trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________ Bản án số:01/2020/HS-ST Ngày 13-02-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH YÊN BÁI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Hoàng Văn Công;
2- Ông Hoàng Văn Khiếu.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lý Văn Tầm- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2020/TLST-HS ngày 03-01-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 31-01-2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn X- Sinh ngày 16-02-1988 tại huyện Y- tỉnh Yên Bái.
Nơi cư trú: Thôn L- xã M- huyện L- tỉnh Yên Bái.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Văn T và bà Hứa Thị L hiện đang sinh sống tại xã X-huyện Y- tỉnh Yên Bái. Vợ là chị Nông Thị Th; bị cáo có hai con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2009. Vợ và các con bị cáo hiện đang sinh sống tại xã M- huyện L- tỉnh Yên Bái.
Tiền án: Ngày 29-8-2018 bị Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến tháng 3 năm 2019 X chấp hành án xong trở về địa phương. Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 04-11-2019, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái, có mặt.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Th 45 tuổi
Nơi cư trú: Tổ 11 thị trấn Y- huyện L- tỉnh Yên Bái, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 02-11-2019 Nguyễn Văn X đi nhờ xe mô tô của một người không quen biết từ nhà đến thị trấn Y, huyện L chơi. Đến chợ thị trấn Y, X đi bộ vào đường Hoàng Văn Thụ. Khi đi đến cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị Th tại tổ 11 thị trấn Y, huyện L thì phát hiện cửa hàng không có ai trông coi, X thấy 01 chiếc điện thoại di động để trên giường nên nảy sinh ý định trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. X đi vào cầm chiếc điện thoại cho vào túi quần đang mặc trên người và đi khỏi cửa hàng, đến một ngôi nhà hoang ở khu vực Đồi Mua thuộc tổ 10 thị trấn Y rồi ngủ ở đó. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày khi X đang định mang điện thoại ra chợ thị trấn Y để bán thì bị Công an huyện L triệu tập lên làm việc. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn X đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ là 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS MAX màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 18 ngày 04-11-2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L- tỉnh Yên Bái đã kết luận: Chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS MAX màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng Nguyễn Văn X chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Th có giá trị là 18.000.000 đồng (Bút lục số 15, 16).
Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-LY ngày 03-01-2020, Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Yên Bái đã truy tố Nguyễn Văn X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Trộn cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn X từ 12 tháng đến 18 tháng tù; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đảm bảo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
[2] Về tội danh và hình phạt: Qúa trình xét hỏi Nguyễn Văn X khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản, Nguyễn Văn X đã lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Th chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS MAX trị giá 18.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Mặc dù nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện nhằm kiếm tiền để thoả mãn nhu cầu cá nhân, do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân: Nguyễn Văn X đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân thành người có ích cho xã hội; mới chấp hành án xong được một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 29-8-2018 Nguyễn Văn X bị Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Yên Bái xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tháng 3-2019 X chấp hành xong án phạt tù; vì chưa được xóa án tích nên với lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm”được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xét thấy nên có 1 mức án tương xứng, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội 1 thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị Th đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, quá trình điều tra không có yêu cầu gì thêm.
[4] Về vật chứng của vụ án: Xác nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trao trả cho chị Nguyễn Thị Th chiếc điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS MAX màu đen, màn hình cảm ứng (Bút lục số 39).
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn X 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 04-11-2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Nguyễn Văn X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; bị hại; - Lưu HS, T.A, THS, THAHS. | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Duy Đô |