- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lô Anh T, phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lô Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:01/2020/HS-ST Ngày 02 -01-2020 |
NH DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NH DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Văn Sang
Hội thẩm Nh dân: Bà Lô Thị Diễn
Bà Lê Thị Bảy
- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Tòa án ND huyện Như Xuân.
- Đại diện VKS Nh dân huyện Như Xuân tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Văn Long - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Toà án Nh dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:33/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019, quyết định đưa vụ án ra xét xử số:31/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2019, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lô Anh T - Sinh ngày 18/02/1995 tại xã Tân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Thôn Tân Thắng, xã Tân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12. Bố: Lô Văn Đ (đã chết); Mẹ: Vi Thị X - Sinh năm: 1972. Gia đình có 02 anh chị em, T là con thứ nhất trong gia đình. Có vợ là Nguyễn Thị Tr và 01 con sinh năm 2016. Tiền sự, tiền án: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2019 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng:
* Bị hại:
Anh Hà Văn D – Sinh năm 1970 (có mặt)
Trú tại: Thôn Tân Thắng, xã Tân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
* Những người làm chứng:
1. Anh Lô Ngọc L - Sinh năm 1998 (có mặt)
2. Anh Vi Trọng B – Sinh năm 1972 (có mặt)
3. Anh Vi Văn L1 - Sinh năm 1973 (có mặt)
4. Anh Lô Văn Nh – Sinh năm 1956 (vắng mặt)
Đều trú tại: Thôn Tân Thắng, xã Tân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
5. Anh Đỗ Văn L3 – sinh năm 1985 (có mặt)
Trú tại: Tiểu khu Bái Đa, thị trấn Nông Cống, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 17/9/2019, Lô Anh T đang cùng Lô Ngọc L (em trai của T), ông Vi Trọng B, ông Vi Văn L1 và anh Đỗ Văn L3 ngồi ăn cơm, uống rượu tại nhà Lô Anh T thì có anh Hà Văn D đến chơi rồi ngồi xuống cùng ăn uống. Trong khi ăn uống giữa T và anh D sảy ra xích mích với nhau về việc khi T đi làm ăn xa nhà, anh D có đến nhà chọc gẹo mẹ của T. Sau đó T và anh D ra ngoài hiên nhà ngồi uống nước. Tại đây do vẫn bực tức với anh D nên T dùng tay đấm liên tiếp vào vùng mặt, cổ của anh D. Sau đó những người có mặt can ngăn nên T không đánh anh D nữa mà đi ra cổng ngõ, cầm một khúc cây gỗ keo chặn không cho ai về, nói để chờ chính quyền địa phương đến giải quyết. Do sảy ra đánh nhau, ông B gọi điện cho ông Lô Văn Nh là trưởng thôn đến giải quyết. Được một lúc sau, anh D đi ra sân định bỏ về thì T ngăn cản không cho anh D về. Anh D vẫn cố về thì T cầm khúc cây gỗ keo thúc một cái trúng vào đỉnh đầu bên phải của anh D, làm anh D gục xuống sân. Lúc này, Lô Ngọc L đang dọn dẹp trong bếp nghe tiếng ồn ào nên cầm một con dao chạy ra sân xem chuyện gì sảy ra thì T ngăn lại và cầm con dao vứt đi. Thấy anh D chảy máu nên mọi người đưa anh D đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Như Xuân, sau đó chuyển xuống Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị. Còn T đến Công an huyện Như Xuân đầu thú.
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể anh Hà Văn D ngày 17/9/2019 ghi nhận:
- 01 vết quầng vùng mắt phải, sưng nề, kích thước 5x12 cm, vết thương sưng kéo dài từ dưới mắt phải đến xương quai hàm;
- 01 vết sưng nề, bầm tím ở môi dưới, phía mép phải, kích thước 1x2 cm;
- 01 vết thương rách da ở phần ở vùng đỉnh đầu bên phải, kích thước 7x1 cm đã được khâu;
- 01 vết sưng nề ở vùng cổ bên phải, ngay dưới quai hàm, kích thước 4x3 cm;
- 01 vết thương rách da ở cánh mũi, kích thước 1x1 cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích số 618/2019/TTPY ngày 23/10/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thanh Hóa kết luận:
Chấn thương vùng đầu đỉnh phải gây chấn thương sọ não kín, chảy máu màng mềm trong các rãnh cuộn não bên phải. Đã được điều trị, hiện tại không có di chứng thần kinh: 16%
Chấn thương vùng mắt phải gây chấn thương mi, đụng dập nhãn cầu đã được điều trị, hiện còn di chứng thị lực mắt phải còn 4/10 và xuất huyết mi: 11%
Các sẹo chấn thương phần mềm vùng đỉnh đầu phía bên phải, vùng cánh mũi bên phải, số lượng sẹo ít, kích thước từ nhỏ đến lớn: 09%
Chấn thương hàm mặt làm gãy xương cánh mũi; đã được điều trị. Hiện tại còn hình ảnh gãy xương cánh mũi, không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và khứu giác: 09%.
Các chấn thương, vết thương phần mềm khác đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không có di chứng tổn thương chức năng do chấn thương: 0%
Tại thời điểm giám định về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm do thương tích gây nên đối với Hà Văn D là 38%.
Về vật chứng: 01 đoạn cây gậy gỗ dài 2,55 m, đường kính 8 cm là vật chứng vụ án đang L3 giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân theo biên bản giao nhận ngày 02/12/2019.
Về dân sự: Quá trình điều tra Hà Văn D yêu cầu bị cáo bồi thương chi phí điều trị, đi lại…tổng số tiền là 40.000.000đ nhưng chưa bồi thường gì đối với bị hại. Tại phiên tòa bị hại yêu cầu các khoản bồi thường do thương tích của bị cáo gây ra bao gồm các khoản tiền thuốc, tiền đi lại, công chăm sóc, tổn thất tinh thần…Tổng cộng là 25.000.000đ. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại Hà Văn D số tiền yêu cầu bồi thường tổng các khoản là 25.000.000đ.
Tại bản cáo trạng số 29/CT- VKSNX ngày 28/11/2019 của Viện kiểm sát Nh dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Lô Anh T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát Nh dân huyện Như Xuân trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo Lô Anh T về tội “Cố ý gây thương tích”. Xét tính chất, mức độ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như Nh thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Lô Anh T từ 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng đến 6 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2019.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đoạn cây gậy gỗ dài 2,55 m, đường kính 8 cm là vật chứng vụ án.
Vấn đề dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 30 BLTTHS; Điều 584; 585; 590 BLDS, tuyên buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Hà Văn D 25.000.000đ các khoản chi phí khám chữa thương tích cho anh Hà Văn D theo thỏa thuận của bị cáo và bị hại tại phiên tòa.
Bị cáo Lô Anh T chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bị oan sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên.
Ý kiến của người bị hại tại phiên tòa:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nh dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng và những tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đủ cơ sở kết luận:
Do có mâu thuẫn từ trước với anh Hà Văn D, vào khoảng 11 giờ ngày 17/9/2019 tại nhà Lô Anh T ở thôn Tân Thắng, xã Tân Bình, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Lô Anh T đã dùng tay liên tiếp đánh vào vùng mặt, cổ anh D, sau đó dùng một khúc cây gỗ keo dài khoảng 2,55m, đường kính 8 cm (được xác định là hung khí huy hiểm) thúc vào vùng đầu bên phải anh Hà Văn D gây thương tích cho anh D. Anh D sau đó được đưa đi Bệnh Viện đa khoa huyện Như Xuân và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa điều trị.
Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung về thương tích số 618/2019/TTPY ngày 23/10/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thanh Hóa kết luận thương tích của Hà Văn D: Chấn thương vùng đầu đỉnh phải gây chấn thương sọ não kín, chảy máu màng mềm trong các rãnh cuộn não bên phải. Đã được điều trị, hiện tại không có di chứng thần kinh: 16%; Chấn thương vùng mắt phải gây chấn thương mi, đụng dập nhãn cầu đã được điều trị, hiện còn di chứng thị lực mắt phải còn 4/10 và xuất huyết mi: 11%; Các sẹo chấn thương phần mềm vùng đỉnh đầu phía bên phải, vùng cánh mũi bên phải, số lượng sẹo ít, kích thước từ nhỏ đến lớn: 09%; Chấn thương hàm mặt làm gãy xương cánh mũi; đã được điều trị. Hiện tại còn hình ảnh gãy xương cánh mũi, không ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và khứu giác: 09%; Các chấn thương, vết thương phần mềm khác đã được điều trị; hiện tại không để lại sẹo vết thương phần mềm, không có di chứng tổn thương chức năng do chấn thương: 0%
Tại thời điểm giám định về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm do thương tích gây nên đối với Hà Văn D là 38%.
Như vậy đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo Lô Anh T gây ra cho bị hại anh Hà Văn D cấu thành tội: Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát Nh dân huyện Như Xuân truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được sức khỏe, tính mạng của con người luôn được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm trực tiếp, gây tổn hại sức khỏe cho bị hại Hà Văn D. Hành vi của bị cáo thể hiện việc xem thường pháp luật, không những gây tổn hại đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương nên Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo làm bài học răn đe và phòng ngừa chung.
Về Nh thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.
Về bồi thường dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại anh Hà Văn D yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản: Tiền ngày công bị mất của anh và của người chăm nuôi trong thời gian điều trị; Tiền thuê xe đi điều trị, giám định; Tiền thuốc điều trị; Tiền tổn thất tinh thần... Tổng các khoản yêu cầu bị cáo phải bồi thường là 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng). Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo chấp nhận yêu cầu của Hà Văn D nên HĐXX căn cứ vào Điều 584, 585, 590 BLDS năm 2015 và nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nh dân tối cao nên có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc gậy gỗ dài 2,55 m có đường kính 8 cm là vật chứng của vụ án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST, án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 BLHS; Điều 30, Điều 136 BLTTHS; Điều 584; 585; 586; 590 BLDS; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án đối với Lô Anh T.
Tuyên bố: Bị cáo Lô Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Lô Anh T 5 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2019.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lô Anh T phải bồi thường cho bị hại Hà Văn D số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy chiếc gậy gỗ có đường kính 8 cm, dài 2,55m theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/12/2019 giữa cơ quan CSĐT Công an huyện Như Xuân và Chi cục THADS huyện Như Xuân.
* Về án phí: Bị cáo Lô T Anh phải nộp 200.000đ án phí HSST và 1.250.000đ án phí DSST.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - VKSND huyện Như Xuân; - Công an huyện Như Xuân; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - Bị cáo, Bị hại; - Cơ quan THA huyện; - L3 hồ sơ. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Cao Văn Sang |