vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 03/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Lê Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn sứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Hồ Lê T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 04/9/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Lê Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày 03-01-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Phong.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Mơ và bà Hứa Thị Nhị.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thúy Nga – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2019/TLST- HS ngày 26 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXXST-HS ngày 24/12/2019 đối với bị cáo:

Hồ Lê T, sinh ngày 14/4/1980 tại tỉnh Đăk Lăk; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Tấn A (đã chết) và bà Lê Thị L (đã chết); có vợ là Lê Thị Ngọc Tr và 03 con; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 18/6/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản; ngày 11/8/2000 bị TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 44/HSST; ngày 15/7/2002 bị TAND huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 60 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 16/HSST; ngày 24/01/2018 bị TAND TP. Buôn Mê Thuột, tỉnh Đăk Lăk áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 16/2018/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 16/01/2019; bị bắt tạm giữ từ ngày 04/9/2019 – có mặt.

- Bị hại: Anh Ngô Duy Th, sinh năm 1988. Vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Võ Đình N, sinh năm 1964. Vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Chị Trần Thị L, sinh năm 1988. Vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 04/9/2019 Hồ Lê T (sinh năm 1980, trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông) mượn xe máy hãng Honda, hiệu Dream, BKS 48F1-0035 của Võ Đình N (sinh năm 1964, trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông) đi từ xã N đến chợ P (thuộc thôn M, xã N, huyện P). Khi đi T mặc áo mưa màu tím, hoa trắng, vàng, hồng loại chui người cá nhân và đội mũ bảo hiểm màu đen xanh. Đến chợ T dựng xe máy ở ngoài cổng và đi vào khu vực trong chợ, khi đi được 15-20 mét thì thấy 01 chiếc xe máy hiệu HALIM màu nâu, BKS 47K8-3495 của anh Ngô Duy Th (sinh năm 1988, trú tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông) dựng trước quán tạp hóa Thịnh L, chìa khóa cắm ở ổ khóa xe, không có người trong coi nên T đã đi đến dắt chiếc xe máy ra và nổ xe chạy về hướng xã N, đi được khoảng 2 km thì T thấy có nhà dân bên phía tay trái không có người ở nhà. T đem chiếc xe trộm được vào cất dấu ở đó, rồi đi bộ quay lại chợ N để lấy chiếc xe của mình mượn đang để trước cổng chợ N thì bị người dân phát hiện và báo cho lực lượng Công an xã N, quá trình làm việc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 05/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đăk Song kết luận: chiếc xe máy hiệu HALIM màu nâu, BKS 47K8- 3495 số máy VHMCT 100004375, số khung PCG00328039275 có giá trị là 2.550.000 đồng (BL: 27).

Tại bản cáo trạng số 72/CT-VKS-ĐS ngày 26/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Hồ Lê T về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Hồ Lê T từ 09 đến 12 tháng tù.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) xe máy hiệu HALIM, màu nâu, BKS 47K8 - 3495, số máy VHMCT100004375, số khung PCG00328039275, quá trình điều tra xác minh chiếc xe trên là xe của anh Ngô Duy Th (SN: 1988. HKTT: thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông). Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Ngô Duy Th.

- 01 (một) xe máy hãng HONDA, loại xe Dream, màu nâu, BKS: 47F1 - 0035. Qua điều tra, xác minh chiếc xe trên là Hồ Lê T đã mượn của ông Võ Đình N (SN: 1964; HKTT: thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đắk Nông). Ông Võ Đình N không biết Hồ Lê T đã sử dụng chiếc xe máy của mình để đi vào chợ N trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Võ Đình N.

- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, xanh (loại lưỡi chai, không có kính).

- 01 (một) áo mưa màu tím, hoa trắng, vàng, hồng loại chui người cá nhân.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Ngô Duy Th không yêu cầu Hồ Lê T bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Bị cáo là người có đủ nhận thức pháp luật để biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do lòng tham và ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu sài nhanh chóng không phải lao động nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/5/2019, tại thôn M, xã N, huyện P, tỉnh Đăk Nông, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc trông coi quản lý tài sản, Hồ Lê T đã bí mật, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy hiệu HALIM màu nâu, BKS 47K8-3495 của anh Ngô Duy Th, trị giá 2.550.000 đồng. Vì vậy HĐXX xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

…”

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Hồ Lê T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức để biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, do muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lén lút, bí mật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có nhân thân xấu, trước đây bị cáo đã nhiều lần trộm cắp tài sản và bị Tòa án xét xử, tại thời điểm phạm tội bị cáo 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt, biết tôn trọng tài sản của người khác và biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân của bị cáo: Ngày 18/06/1997 Trộm cắp tài sản bị Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 06 tháng tù giam (lần phạm tội này do bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích). Ngày 18/04/2000 Trộm cắp tài sản bị Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù giam. Quá trình điều tra không xác minh được việc bị cáo đã thi hành án phí hình sự sơ thẩm hay chưa, do hồ sơ thi hành án dân sự của bị cáo bị thất lạc, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên không xác định lần phạm tội này là có án tích.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần xem xét tình tiết trên để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước ta.

. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh xác định bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có nguồn thu nhập chính. Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Xét đề nghị của đại diện viện kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.

. Về trách nhiệm dân sự: anh Ngô Duy Th không yêu cầu Hồ Lê T bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

. Về vật chứng của vụ án:

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song trả lại 01 (một) xe máy hiệu HALIM, màu nâu, BKS 47K8 - 3495, số máy VHMCT100004375, số khung PCG00328039275 cho anh Ngô Duy Th là chủ sở hữu hợp pháp.

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song trả lại 01 (một) xe máy hãng HONDA, loại xe Dream, màu nâu, BKS: 47F1 – 0035 cho ông Võ Đình N là chủ sở hữu hợp pháp.

- Trả lại cho Hồ Lê T 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, xanh (loại lưỡi chai, không có kính); 01 (một) áo mưa màu tím, hoa trắng, vàng, hồng loại chui người cá nhân.

. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Lê Toàn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn sứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

1. Xử phạt bị cáo Hồ Lê T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 04/9/2019.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song trả lại 01 (một) xe máy hiệu HALIM, màu nâu, BKS 47K8 - 3495, số máy VHMCT100004375, số khung PCG00328039275 cho anh Ngô Duy Th là chủ sở hữu hợp pháp.

- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đăk Song trả lại 01 (một) xe máy hãng HONDA, loại xe Dream, màu nâu, BKS: 47F1 – 0035 cho ông Võ Đình N là chủ sở hữu hợp pháp.

- Trả lại cho Hồ Lê T 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, xanh (loại lưỡi chai, không có kính); 01 (một) áo mưa màu tím, hoa trắng, vàng, hồng loại chui người cá nhân.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/11/2019 giữa Công an huyện Đắk Song và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đắk Song).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hồ Lê T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ