- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân L - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Xuân L phạm t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HS-ST Ngày: 09-01-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th i Ng n.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguy n Th i Loan.
Ông Phạm Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huy n Bàu Bàng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2019/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2019, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 01/2019/QD9ST – HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với b cáo:
Lê Xuân L (Tí), sinh năm 1989, tại Thanh Hóa; nơi cư trú: ấp 2, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: Tài xế; trình đ h c vấn: 7/12; d n t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông Lê Xuân M và bà Nguy n Th N; tiền án, tiền sự: không, b cấm đi khỏi nơi cư trú theo L nh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/HSST-LCCT ngày 05 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nh n d n huy n Bàu Bàng; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Đình H, sinh năm 1971 và bà Nguy n Th H, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp 2, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Hiền: Ông Lê Đình H, sinh năm 1971; nơi cư trú: ấp 2, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương, là người đại di n theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 17-10-2019), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa năm 2018, Lê Xu n L thuê Lê Đình H làm thuê cho mình, công vi c là phụ xe. Trong thời gian này, L biết H có nhu cầu xin vi c cho con của ông H là Lê Th M, sinh năm 1997. L nói quen biết ở Becamex có thể xin vi c cho con gái của ông H làm vi c tại Bình Dương, ông H đồng ý.
Ngày 20-8-2018, L yêu cầu ông H đưa 50.000.000 đồng để xin vi c cho con của ông H, L hẹn ông H đến quán cà phê Tuổi Trẻ tại ấp 1, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương để giao tiền. Ông H đồng ý. Tại quán cà phê này, L nhận 50.000.000 đồng của ông H và viết giấy nhận tiền thể hi n n i dung đã nhận của ông H 50.000.000 đồng để xin vi c cho con gái ông H. L đưa giấy nhận tiền cho ông H giữ. Sau khi nhận giấy nhận tiền mà L đưa, ông H nhờ ông Đỗ Xu n T sinh năm 1954, trú tại ấp 4, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương ký người chứng kiến vì lúc L nhận tiền của ông H và ghi giấy nhận tiền thì T có ngồi ở chòi kế bên nhìn qua thấy nhưng không biết rõ n i dung. Sau khi nhận tiền, L không xin vi c cho con của ông H mà sử dụng vào vi c tiêu xài cá nhân, ông H nhiều lần đến gặp L để đòi tiền nhưng L không trả. Đến ngày 01-09- 2019, ông H làm đơn tố cáo L đến Công an xã T, huy n B. Công an xã T lập hồ sơ ban đầu chuyển cho Công an huy n Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.
Vật chứng tạm giữ: 01 văn bản có tiêu đề “giấy nhận tiền” có chữ ký Lê Xuân L, dấu v n tay của Lê Xuân L và chữ ký Đỗ Xu n T.
Về trách nhi m d n sự: Ông H khai nhận số tiền 50.000.000 đồng đưa cho L là tài sản chung của ông H và vợ là bà Nguy n Th H. Bà H ủy quyền cho H giải quyết toàn b các vấn đề liên quan đến vụ án. Ông H yêu cầu Lê Xu n L trả lại 50.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, L khai nhận: Ngày 20-8-2018, L có nhận 50.000.000 đồng của H nhưng không phải là tiền để xin vi c cho con của ông H mà là tiền L mượn để đi chơi đánh bạc là 40.000.000 đồng, tiền lãi là 10.000.000 đồng, đ a điểm nhận tiền là nhà của ông H. L thừa nhận n i dung trong giấy vay tiền, chữ ký, dấu v n tay là của L nhưng n i dung là viết theo yêu cầu của ông H. Tuy nhiên, L không có chứng cứ chứng minh về lời khai của mình.
Đối với hành vi đánh bạc mà L đã khai trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huy n Bàu Bàng đang xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa, b cáo L khai như sau: Ngày 20-8-2018, L có hành vi gian dối là hứa xin vi c cho con ông H và viết giấy nhận tiền giao cho ông H giữ để làm tin nhầm chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của ông H và bà H sau đó tiêu xài cá nh n hết. Ngày 27-11-2019, L đã trả cho ông H số tiền 50.000.000 đồng. B cáo thống nhất với cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng. Lời khai tại phiên tòa m u thuẫn với lời khai trong quá trình điều tra là do b cáo sợ có t i nên khai nhận là quan h vay mượn.
B cáo không có ý kiến gì về kết luận giám đ nh, quyết đ nh truy tố của Vi n kiểm sát.
Đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận t i, giữ nguyên quyết đ nh truy tố b cáo Lê Xuân L với t i danh như trên, đồng thời đề ngh H i đồng xét xử:
Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt b cáo mức hình phạt từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.
Về trách nhi m d n sự: Đã giải quyết xong.
B cáo trình bày lời nói sau cùng: B cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết đ nh, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, b cáo bác bỏ toàn b lời khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là xin vi c làm cho con ông H để chiếm đoạt tài sản của ông H và bà H với số tiền 50.000.000 đồng. Lời khai của b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai lời khai của b hại cùng những tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi mà b cáo thực hi n đã phạm vào t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của B luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. B cáo đủ năng lực ch u trách nhi m hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng truy tố b cáo theo t i danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng t i.
Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã x m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo v ; g y mất trật tự, tr an tại đ a phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, b cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà b cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hi n hành vi phạm t i với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục b cáo đồng thời nh m đấu tranh phòng chống t i phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức đ , hành vi phạm t i mà b cáo đã thực hi n.
Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Tại phiên tòa b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguy n bồi thường khắc phục hậu quả, b hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
B cáo có nh n th n tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, vi c không bắt b cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không g y ảnh hưởng xấu đến cu c đấu tranh phòng, chống t i phạm. H i đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Ngh quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15-5-2018 của H i đồng Thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của B luật Hình sự về án treo, cho b cáo hưởng án treo là đã đủ răn đe, giáo dục b cáo.
Xét đề ngh của Vi n kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp. Tuy nhiên, đề ngh áp dụng hình phạt tù là chưa xem xét toàn b tính chất, mức đ , hành vi, các tình tiết trong vụ án nên H i đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có điều ki n là cho hưởng án treo đối với b cáo.
Về trách nhi m d n sự: Đã giải quyết xong, không đặt ra xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: B cáo phải ch u theo quy đ nh tại Điều 136 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 136, Điều 260, Điều 333 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào Ngh quyết số 02/2018 ngày 15-5-2018 của Tòa án nh n d n Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của B luật Hình sự về án treo.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí, l phí Tòa án.
1. Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Xuân L phạm t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt b cáo Lê Xuân L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao b cáo cho Ủy ban nh n d n xã T, huy n B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy đ nh của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh bu c người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hi n hành vi phạm t i mới thì Tòa án bu c người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy đ nh tại Điều 56 của B luật Hình sự.
2. Về trách nhi m d n sự: Đã giải quyết xong.
3. Về án phí: B cáo phải ch u 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: B cáo, b hại, người đại di n hợp pháp của b hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV27); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND huy n Bàu Bàng; - Công an huy n Bàu Bàng; - Chi cục THA huy n Bàu Bàng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM HÁN – CHỦ T A HI N TÒA Nguy n Th Ái Ngân |