vanban.org

Bản án 01/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Xuân L phạm t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt b cáo Lê Xuân L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao b cáo cho Ủy ban nh n d n xã T, huy n B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân L - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Xuân L phạm t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÀU BÀNG
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-ST
Ngày: 09-01-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguy n Th i Ng n.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguy n Th i Loan.

Ông Phạm Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huy n Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Ông Thái Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2019/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2019, theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 52/2019/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 12 năm 2019 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 01/2019/QD9ST – HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với b cáo:

Lê Xuân L (Tí), sinh năm 1989, tại Thanh Hóa; nơi cư trú: ấp 2, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương; nghề nghi p: Tài xế; trình đ h c vấn: 7/12; d n t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Vi t Nam; con ông Lê Xuân M và bà Nguy n Th N; tiền án, tiền sự: không, b cấm đi khỏi nơi cư trú theo L nh cấm đi khỏi nơi cư trú số 15/HSST-LCCT ngày 05 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nh n d n huy n Bàu Bàng; có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Đình H, sinh năm 1971 và bà Nguy n Th H, sinh năm 1972; nơi cư trú: ấp 2, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bà Hiền: Ông Lê Đình H, sinh năm 1971; nơi cư trú: ấp 2, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương, là người đại di n theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 17-10-2019), có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa năm 2018, Lê Xu n L thuê Lê Đình H làm thuê cho mình, công vi c là phụ xe. Trong thời gian này, L biết H có nhu cầu xin vi c cho con của ông H là Lê Th M, sinh năm 1997. L nói quen biết ở Becamex có thể xin vi c cho con gái của ông H làm vi c tại Bình Dương, ông H đồng ý.

Ngày 20-8-2018, L yêu cầu ông H đưa 50.000.000 đồng để xin vi c cho con của ông H, L hẹn ông H đến quán cà phê Tuổi Trẻ tại ấp 1, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương để giao tiền. Ông H đồng ý. Tại quán cà phê này, L nhận 50.000.000 đồng của ông H và viết giấy nhận tiền thể hi n n i dung đã nhận của ông H 50.000.000 đồng để xin vi c cho con gái ông H. L đưa giấy nhận tiền cho ông H giữ. Sau khi nhận giấy nhận tiền mà L đưa, ông H nhờ ông Đỗ Xu n T sinh năm 1954, trú tại ấp 4, xã H, huy n B, tỉnh Bình Dương ký người chứng kiến vì lúc L nhận tiền của ông H và ghi giấy nhận tiền thì T có ngồi ở chòi kế bên nhìn qua thấy nhưng không biết rõ n i dung. Sau khi nhận tiền, L không xin vi c cho con của ông H mà sử dụng vào vi c tiêu xài cá nhân, ông H nhiều lần đến gặp L để đòi tiền nhưng L không trả. Đến ngày 01-09- 2019, ông H làm đơn tố cáo L đến Công an xã T, huy n B. Công an xã T lập hồ sơ ban đầu chuyển cho Công an huy n Bàu Bàng xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng tạm giữ: 01 văn bản có tiêu đề “giấy nhận tiền” có chữ ký Lê Xuân L, dấu v n tay của Lê Xuân L và chữ ký Đỗ Xu n T.

Về trách nhi m d n sự: Ông H khai nhận số tiền 50.000.000 đồng đưa cho L là tài sản chung của ông H và vợ là bà Nguy n Th H. Bà H ủy quyền cho H giải quyết toàn b các vấn đề liên quan đến vụ án. Ông H yêu cầu Lê Xu n L trả lại 50.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, L khai nhận: Ngày 20-8-2018, L có nhận 50.000.000 đồng của H nhưng không phải là tiền để xin vi c cho con của ông H mà là tiền L mượn để đi chơi đánh bạc là 40.000.000 đồng, tiền lãi là 10.000.000 đồng, đ a điểm nhận tiền là nhà của ông H. L thừa nhận n i dung trong giấy vay tiền, chữ ký, dấu v n tay là của L nhưng n i dung là viết theo yêu cầu của ông H. Tuy nhiên, L không có chứng cứ chứng minh về lời khai của mình.

Đối với hành vi đánh bạc mà L đã khai trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huy n Bàu Bàng đang xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, b cáo L khai như sau: Ngày 20-8-2018, L có hành vi gian dối là hứa xin vi c cho con ông H và viết giấy nhận tiền giao cho ông H giữ để làm tin nhầm chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của ông H và bà H sau đó tiêu xài cá nh n hết. Ngày 27-11-2019, L đã trả cho ông H số tiền 50.000.000 đồng. B cáo thống nhất với cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng. Lời khai tại phiên tòa m u thuẫn với lời khai trong quá trình điều tra là do b cáo sợ có t i nên khai nhận là quan h vay mượn.

B cáo không có ý kiến gì về kết luận giám đ nh, quyết đ nh truy tố của Vi n kiểm sát.

Đại di n Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận t i, giữ nguyên quyết đ nh truy tố b cáo Lê Xuân L với t i danh như trên, đồng thời đề ngh H i đồng xét xử:

Về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt b cáo mức hình phạt từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù.

Về trách nhi m d n sự: Đã giải quyết xong.

B cáo trình bày lời nói sau cùng: B cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho b cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận đ nh như sau:

Về hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết đ nh, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, b cáo bác bỏ toàn b lời khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận có hành vi dùng thủ đoạn gian dối là xin vi c làm cho con ông H để chiếm đoạt tài sản của ông H và bà H với số tiền 50.000.000 đồng. Lời khai của b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai lời khai của b hại cùng những tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi mà b cáo thực hi n đã phạm vào t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của B luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. B cáo đủ năng lực ch u trách nhi m hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Vi n kiểm sát nh n d n huy n Bàu Bàng truy tố b cáo theo t i danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng t i.

Hành vi của b cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã x m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo v ; g y mất trật tự, tr an tại đ a phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, b cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà b cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hi n hành vi phạm t i với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục b cáo đồng thời nh m đấu tranh phòng chống t i phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức đ , hành vi phạm t i mà b cáo đã thực hi n.

Tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Tại phiên tòa b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguy n bồi thường khắc phục hậu quả, b hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

B cáo có nh n th n tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có các tình tiết giảm nhẹ quy đ nh tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng, vi c không bắt b cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không g y ảnh hưởng xấu đến cu c đấu tranh phòng, chống t i phạm. H i đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của B luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Ngh quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15-5-2018 của H i đồng Thẩm phán Tòa án nh n d n tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của B luật Hình sự về án treo, cho b cáo hưởng án treo là đã đủ răn đe, giáo dục b cáo.

Xét đề ngh của Vi n kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp. Tuy nhiên, đề ngh áp dụng hình phạt tù là chưa xem xét toàn b tính chất, mức đ , hành vi, các tình tiết trong vụ án nên H i đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có điều ki n là cho hưởng án treo đối với b cáo.

Về trách nhi m d n sự: Đã giải quyết xong, không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: B cáo phải ch u theo quy đ nh tại Điều 136 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 136, Điều 260, Điều 333 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ vào Ngh quyết số 02/2018 ngày 15-5-2018 của Tòa án nh n d n Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của B luật Hình sự về án treo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 23 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí, l phí Tòa án.

1. Về trách nhi m hình sự: Tuyên bố b cáo Lê Xuân L phạm t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt b cáo Lê Xuân L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao b cáo cho Ủy ban nh n d n xã T, huy n B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy đ nh của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết đ nh bu c người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hi n hành vi phạm t i mới thì Tòa án bu c người đó chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy đ nh tại Điều 56 của B luật Hình sự.

2. Về trách nhi m d n sự: Đã giải quyết xong.

3. Về án phí: B cáo phải ch u 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: B cáo, b hại, người đại di n hợp pháp của b hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ