vanban.org

Bản án 01/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 09/01/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/01/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn B trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HS-PT
Ngày: 09-01-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tân.

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Đăng Huy.

Ông Vũ Thanh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 229/2019/TLPT-HS ngày 23 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Bùi Văn B, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đối với bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

- Bị cáo bị kháng nghị:

BÙI VĂN BẨY- sinh năm 1966, nơi sinh và nơi cư trú: Thôn B, xã Th, huyện K (nay là thị xã K), tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N và bà Nguyễn Thị C; có vợ và 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 66/2015/HSST ngày 09/12/2015 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt Bùi Văn B 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản; Tại bản án số 31/2016/HSST ngày 13/7/2016 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt Bùi Văn B 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của bản án số 66/2015/HSST ngày 09/12/2015 chuyển đổi thành 03 tháng 12 ngày tù, buộc bị cáo phải chấp hành tổng 15 tháng 12 ngày tù. Chưa được xóa án tích. Tại bản án số 20/2018/HSST ngày 27/4/2018 của TAND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt Bùi Văn B 08 tháng tù về Trộm cắp tài sản (Tài sản chiếm đoạt trị giá 1.906.000 đồng). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2018, chưa được xóa án tích; Nhân thân: Ngày 15/9/1999 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục số 2077 đối với B; Ngày 03/12/2001 Công an huyện Kim Thành ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87 đối với B về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 30/8/2019 đến nay, có mặt.

* Bị hại không kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 02/4/2002.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 – là bố đẻ chị H; Đều ở địa chỉ: Thôn U, xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương. Đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1971. Vắng mặt.

Địa chỉ: B, xã Th, thị xã K, tỉnh Hải Dương.

* Người làm chứng:

- Chị Tô Thị O, sinh năm 1984. Vắng mặt.

- Anh Đỗ Anh V, sinh năm 1983. Vắng mặt.

Đều ở địa chỉ: Thôn Ph, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

- Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1960; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn U, xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 09/8/2019, Bùi Văn B đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát 34M7-5451 (của vợ là chị Nguyễn Thị L), sang huyện N, Hải Dương với mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 08 giờ cùng ngày, Bẩy đến nhà chị Nguyễn Thị H ở khu dân cư thôn U, xã M, huyện N, lúc này chị Huệ đang ở nhà một mình, B vào sân nói chuyện với chị H. Lợi dụng sơ hở của chị Huệ đang ở ngoài hiên, B vào phòng ngủ lén lút lấy chiếc điện thoại di động đang sạc pin, nhãn hiệu OPPO A5S màu đen, lắp sim số 0868155711 (trong tài khoản không có tiền) cất vào túi quần rồi đi xe mô tô rời khỏi nhà chị Huệ. Bẩy đi đến cửa hàng điện thoại Th mobile ở thôn Ph, xã K, huyện K bán cho chị Tô Thị O chiếc điện thoại trên với giá 1.000.000 đồng và sử dụng cá nhân hết. Chị O không biết điện thoại trên do Bẩy phạm tội mà có nên đến khoảng 11 giờ cùng ngày đã bán cho anh Đỗ Anh V ở cùng thôn với giá 2.500.000 đồng. Sau khi chị H phát hiện bị mất điện thoại di động đã làm đơn gửi Công an huyện Nam Sách, vụ án được điều tra làm rõ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KLĐGTS ngày 14/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nam Sách, kết luận: Chiếc điện thoại di động hãng OPPO A5S Black có giá là 2.330.833 đồng (làm tròn 2.330.000 đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 12/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự (BLHS); điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016; Tuyên bố bị cáo Bùi Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Bùi Văn B 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30-8-2019. Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Tại Quyết định kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 12/12/2019 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, đề nghị sửa bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HSST ngày 12/11/2019 của TAND huyện Nam Sách, xác định bị cáo "tái phạm nguy hiểm", áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS để xét xử tăng hình phạt đối với bị cáo Bùi Văn B về tội Trộm cắp tài sản.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo nhất trí về tội danh đã bị xét xử. Đối với nội dung kháng nghị, bị cáo không có ý kiến gì. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương (VKSND) phát biểu ý kiến và đề nghị: Giữ nguyên nội dung tại quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-P7 ngày 12/12/2019 của Viện trưởng VKSND tỉnh Hải Dương, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của BLTTHS, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Bùi Văn B từ 24 đến 27 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng nghị của Viện trưởng VKSND tỉnh Hải Dương trong thời hạn, phù hợp với quy định tại Điều 337 và 338 của BLTTHS.

Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 09/8/2019, tại nhà chị Nguyễn Thị Huệ ở thôn U, xã M, huyện N, tỉnh Hải Dương, lợi dụng sự mất cảnh giác của chị H, Bùi Văn B đã lén lút lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S, màu đen, trị giá 2.330.000 đồng sau đó bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và Tòa án nhân dân huyện Nam Sách đã xét xử bị cáo về tội danh như trên là phù hợp. Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị về tội danh nên HĐXX không xem xét.

Về nội dung kháng nghị, HĐXX xét thấy: Bị cáo Bùi Văn B đã 03 lần bị kết án, chưa được xóa án tích. Cụ thể: Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2015/HSST ngày 09/12/2015 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2016/HSST ngày 13/7/2016 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g (tái phạm) khoản 1 Điều 48 của BLHS, xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành của bản án số 66/2015/HSST ngày 09/12/2015 chuyển đổi thành 03 tháng 12 ngày tù, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 tháng 12 ngày tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2017. Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2018/HSST ngày 27/4/2018 của TAND huyện Nam Sách đã áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trộm cắp là 1.906.000đ), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2018. Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự, thì bản án số 31/2016/HSST ngày 13/7/2016 của TAND huyện Thanh Hà đã tuyên đối với bị cáo và bị cáo chỉ được xóa án tích vào ngày 01/9/2019 (nếu không phạm tội mới) nhưng tại bản án số 20/2018/HSST ngày 27/4/2018 của TAND huyện Nam Sách đã xử phạt Bùi Văn B 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.906.000đ), bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2018, theo quy định tai khoản 2 Điều 73 của Bộ luật hình sự thì bị cáo chỉ được xóa án tích trong thời hạn 02 năm kể từ ngày 27/9/2018 (ngày chấp hành xong hình phạt của bản án mới). Đến ngày 09/8/2019 khi chưa được xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội Trộm cắp tài sản có giá trị là 2.330.000đ. Như vậy, bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của BLHS, nên hành vi trộm cắp tài sản của Bùi Văn B trong lần phạm tội này thuộc trường hợp "Tái phạm nguy hiểm", vi phạm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS. Cấp sơ thẩm xác định bị cáo có 03 tiền án, chưa được xóa án tích (năm 2015, 2016 và 2018) nhưng hai tiền án đầu chỉ là điều kiện đủ để truy tố bị cáo ở hành vi thứ ba vào năm 2018 (vì giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000đ) nên đã xét xử bị cáo tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là„„Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS, xử phạt bị cáo 10 tháng tù là không đúng tính chất, nhân thân bị cáo. Từ phân tích trên, xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương là có căn cứ pháp luật. HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 của BLTTHS, sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự, tăng mức hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo trộm cắp tài sản trị giá 2.330.000đ nhưng bị xét xử theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ là Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn B 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30-8-2019.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ