vanban.org

Bản án 01/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị T, cụ thể: Bà Phùng Thị T được ly hôn với ông Tạ Duy Đ.

Về con chung: Không có; Về tài sản chung và các khoản vay và cho vay: Không có.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phùng Thị T - Tạ Duy Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị T, cụ thể: Bà Phùng Thị T được ly hôn với ông Tạ Duy Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự bà Phùng Thị T; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 01/2020/HNGĐ-ST
Ngày 20 - 4 - 2020
V/v Khởi kiện xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa Phiên tòa: Ông Lương Đình Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đăng Thị Lan Anh.

Bà Đào Hoàng Yến.

- Thư ký phiên tòa

​: Ông Dương Hữu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- ​ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà​: Bà Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 15/2020/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2020 về Khởi kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020; Thông báo chuyển ngày xét xử số 824/2020/TB-TA ngày 16 tháng 3 năm 2020 và Thông báo chuyển ngày xét xử số 1044/2020/TB-TA ngày 03 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

Bà Phùng Thị T, sinh năm 1966; địa chỉ: Số nhà 3**, ngõ 3*, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.

- Bị đơn:

Ông Tạ Duy Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: Số nhà 3**, ngõ 3*, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị T như sau: Bà Phùng Thị T kết hôn với ông Tạ Duy Đ vào năm 2013 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau một thời gian vợ chồng bắt đầu mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên đến tháng 8 năm 2015 ông Tạ Duy Đ tự nhiên bỏ nhà ra đi biệt tích từ đó đến nay không có tin tức gì, ngày 12 tháng 9 năm 2019 Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố ông Tạ Duy Đ mất tích. Nay bà Phùng Thị T khởi kiện xin ly hôn; về con chung: không có; tài sản chung và các khoản tài sản cho vay hoặc đi vay mượn của hai vợ chồng: Không có

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu và ​kết luận về thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật để giải quyết vụ án và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định pháp luật; về quan điểm giải quyết vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị T, cho bà Phùng Thị T ly hôn với ông Tạ Duy Đ do ông Tạ Duy Đ đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo quyết định số 03/2019/QĐST-VDS ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cho bà Phùng Thị T ly hôn với ông Tạ Duy Đ là có căn cứ; về con chung: Không có; về tài sản chung và tài sản đi vay, cho vay; Không có; về án phí, buộc bà Phùng Thị T chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp về ly hôn là thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn nhưng do bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú và đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Đến nay ông Tạ Duy Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà Phùng Thị T kết hôn với ông Tạ Duy Đ vào năm 2013 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Trong quá trình chung sống ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau một thời gian bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, nên đến tháng 8 năm 2015 ông Tạ Duy Đ tự nhiên bỏ nhà ra đi biệt tích từ đó đến nay không có tin tức gì, đến năm 2019 bà Phùng Thị T đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Tạ Duy Đ mất tích. Tại Quyết định số 03/2019/QĐST-VDS ngày 12 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã tuyên bố ông Tạ Duy Đ mất tích. Nay bà Phùng Thị T khởi kiện xin ly hôn với ông Tạ Duy Đ; về con chung: Không có; tài sản chung và các khoản tài sản cho vay, đi vay mượn của hai vợ chồng: Không có.

Xét về yêu cầu của người khởi kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của bà Phùng Thị T là có căn cứ, bởi ông Tạ Duy Đ đã mất tích theo quyết định tuyên bố của Tòa án thì bà Phùng Thị T có quyền yêu cầu ly hôn với ông Tạ Duy Đ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình là có căn cứ; về con chung: Không có; tài sản chung và các khoản tài sản cho vay, đi vay mượn của hai vợ chồng: Không có. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự bà Phùng Thị T là người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

Quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 227; 228; 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 56 và các Điều 57; 58 của Luật hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phùng Thị T, cụ thể: Bà Phùng Thị T được ly hôn với ông Tạ Duy Đ.

- Về con chung: Không có;

- Về tài sản chung và các khoản vay và cho vay: Không có.

3. Về án phí: Bà Phùng Thị T phải chịu 300.000 đồng (​

ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Phùng Thị T đã nộp tại biên lai số AA/2015/0002083 ngày 08 tháng 01 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Xác nhận bà Phùng Thị T đã nộp đủ.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn ông Tạ Duy Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ