- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Bích Hà và Nguyễn Công Chính"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 227, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và…
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU TP- ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST Ngày: 10 tháng 01 năm 2020 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU – THNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với tHnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Hồng Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Văn Sỹ
2. Bà Huỳnh Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 01 năm 2020 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 335/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2019 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2019/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 52/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trƣơng Thị Bích H – Sinh năm 1991.
Trú tại: 36, phường H, quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C – Sinh năm 1992.
Trú tại: Tổ 36, phường H, quận Liên Chiểu, tp Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo khởi kiện gửi đến Tòa án cũng như trong quá trình tham gia tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Trương Thị Bích H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Ngọc C xây dựng gia đình vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau. Sau khi kết hôn, chúng tôi về nH bố mẹ tôi chung sống tại địa chỉ: Tổ 36, phường H, quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng.
Trong quá trình chung sống với nhau, chúng tôi thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình hai vợ chồng không hợp nhau, thường hay cải vã và không tìm được tiếng nói chung, ông C không có trách nhiệm, lo lắng và chăm sóc cho vợ con và chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2018 đến nay. Nay tôi thấy không còn tình cảm với ông C, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng không thể Hn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.
- Về quan hệ con chung: Tôi và ông Nguyễn Ngọc C có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Nghĩa – Sinh ngày 05.3.2010. Tôi có nguyện vọng nuôi con chung và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay, tôi đang sống cùng con tại tổ 36, phường H, quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng. Tôi đang làm việc tại tiệm Spa với mức thu nhập mỗi tháng từ 8.000.000đồng đến 9.000.000 đồng.
- Về tài sản chung: Tôi xác định tôi và ông Nguyễn Ngọc C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Tôi xác định tôi và ông Nguyễn Ngọc C không nợ ai và không ai nợ chúng tôi.
* Bị đơn ông Nguyễn Ngọc C: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lấy lời khai, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Nguyễn Ngọc C vẫn vắng mặt cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Bích H nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
* Ý kiến của đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:
- Về thủ tục tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
+ Việc chấp Hnh pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Còn bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến trình bày quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia quá trình tố tụng là không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm đối với việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của bà Trương Thị Bích H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng 51, 56, 58, 81 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà H. Đề nghị HĐXX xử cho bà Trương Thị Bích H ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C và giao con Nguyễn Ngọc Nghĩa – Sinh ngày 05.3.2010 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng tHnh (18 tuổi). Bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, bị đơn ông Nguyễn Ngọc C có cư trú tại quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Ngọc C vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến Hnh xét xử vắng mặt ông Nguyễn Ngọc C theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung tranh chấp của vụ án:
Tại phiên tòa bà Trương Thị Bích H giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu tHnh phố Đà Nẵng giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Ngọc C.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Bích H và ông Nguyễn Ngọc C xây dựng gia đình vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu yêu thương nhau. Sau khi kết hôn, bà H và ông C về sống cùng với bố mẹ bà H tại tổ 36, phường H, quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng. Việc kết hôn giữa bà H và ông C là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không trái với quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông C là hoàn toàn hợp pháp
Xét thấy trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà Trương Thị Bích H xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng hay cãi vã và không tìm được tiếng nói chung, ông C không có trách nhiệm, lo lắng và chăm sóc cho vợ con khiến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Hiện nay, bà H và ông C đã sống ly thân. Tại phiên tòa, bà Trương Thị Bích H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Ngọc C nên mong muốn được ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Ngọc C đều vắng mặt và cũng không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Bích H. Điều này thể hiện ông C không có thiện chí muốn Hn gắn hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng bà H và ông C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trương Thị Bích H đối với ông Nguyễn Ngọc C.
- Về yêu cầu con chung: Bà Trương Thị Bích H và ông Nguyễn Ngọc C có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Nghĩa – Sinh ngày 05.3.2010. Quá trình giải quyết vụ án bà H có nguyện vọng xin nuôi con và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu nuôi con chung của bà Trương Thị Bích H thì thấy: Bà H có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Ngọc Ng – Sinh ngày 05.3.2010. Hiện nay, cháu Nghĩa đang sinh sống với bà H và có nguyện vọng muốn ở với bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Ngọc C vắng mặt và không có ý kiến gì nên giao con Nguyễn Ngọc Nghĩa cho bà Trương Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Bích H xác định, bà và ông C tự thỏa thuận về phần tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung bà H xác nhận không có. Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Ngọc C vắng mặt và không có ý kiến gì đối với vấn đề tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập. Nếu sau này, bà H và ông C có tranh chấp về phần tài sản chung và nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên; [ơ
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 227, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Trương Thị Bích H đối với ông Nguyễn Ngọc C.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Thị Bích H được ly hôn ông Nguyễn Ngọc C.
(Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31/2015, ngày 26.3.2015 của UBND phường H, quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng không còn giá trị.)
2. Về quan hệ con chung:
- Giao con Nguyễn Ngọc Ng – Sinh ngày 05.3.2010 cho bà Trương Thị Bích H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng tHnh đủ 18 tuổi. Ông Nguyễn Ngọc C không cấp dưỡng nuôi con.
Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0006435 ngày 12.9.2019 tại Chi cục thi Hnh án dân sự quận Liên Chiểu, tHnh phố Đà Nẵng. Bà Trương Thị Bích H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thỏa thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Liên Chiểu; - Chi cục THADS quận Liên Chiểu; - Sở tư pháp; - UBND phường H; - Lưu hồ sơ vụ án. { | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Thị Hồng Thủy |