- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hạnh - Vui"
- Tòa quyết gì? Xử: Cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Khuất Tiến V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/HNGĐ -ST Ngày 16/01/2020. V/v: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH – TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Mạnh Hùng;
2. Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phù Ninh;
Hôm nay, ngày 16/01/2020 tại trụ sở TAND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọ, TAND huyện Phù Ninh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 238/2019/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2019/QĐXX-ST ngày 09/12/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2019/QĐST ngày 27/12/2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, Sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT.
Hôm nay, có mặt.
Bị đơn: Anh Khuất Tiến V, sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu 10, xã PN, huyện PN, tỉnh PT.
Hôm nay, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay chị Đỗ Thị
H trình bày: Chị và anh Khuất Tiến V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 10/02/1994 tại UBND xã PN, huyện PN, tỉnh PT. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng tháng 8/2014 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V không chung thủy với vợ. Chị đã khuyên bản nhiều lần nhưng không được nên mâu thuẫn vợ chồng ngàng càng mâu thuẫn vợ chồng. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh Khuất Tiến V.
Về con chung: Chị xác định, vợ chồng có hai con chung là Khuất Thị H1,
sinh ngày 16/5/1995 và Khuất Tiến H2, sinh ngày 06/6/1997. Hiện nay hai con chung đều đã thành niên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án
giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp: Không có.
Phía bị đơn là anh Khuất Tiến V: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa
án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh Khuất Tiến V biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, nhưng anh Khuất Tiến V đều không có mặt nên không có lời khai của anh V và Tòa án không tiến hành hòa giải được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Đỗ Thị H có yêu cầu xin ly hôn với anh Khuất Tiến V nên đây là
tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a, Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Khuất Tiến V kết hôn
với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã PN, huyện PN, tØnh PT phù hợp với Luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị Hạnh trình bày thì vợ chồng mâu thuẫn là do anh Vcó quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng mặc dù sống chung một nhà nhưng không còn quan tâm gì đến nhau, không còn quan hệ về mặt tình cảm. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng để anh V biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Nhưng anh V đều không có mặt. Tòa án cũng đã đến gia đình chị để lấy lời khai của anh V nhưng anh V không hợp tác làm việc. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/11/2019 Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương đến gia
đình anh Vui để lấy lời khai của anh V đối với yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh V không hợp tác, không viết bản tự khai và cũng không cho cán bộ tòa án lấy lời khai và đề nghị Tòa án cứ giải quyết vụ án theo yêu cầu của chị Hạnh.
Tại phiên tòa hôm nay chị H vẫn giữ nguyên quan điểm về quan hệ hôn
nhân như trong quá trình giải quyết vụ án, anh V vắng mặt nhưng cũng có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu xin ly hôn của chị H. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần xử cho chị H được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có hai con chung là Nguyễn
Thị H1, sinh ngày 16/5/1995 và Khuất Tiến H1, sinh ngày 06/6/1997. Hiện nay các con đều đã thành niên nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị H xác nhận hai bên tự thỏa thuận
không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu sau này chị H và anh V đề nghị giải quyết về tài sản chung thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung, công sức: Chị H x¸c ®Þnh vî chång kh«ng cã nªn
HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu sau này anh V đề nghị giải quyết về nợ chung và công sức và có căn cứ thì sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
Tại phiên tòa hôm nay anh V mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 2 điều 227 và điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt đối với anh V.
Về án phí: Chị H phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo quy
định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Khuất Tiến V.
Về con chung: Các con đã thành niên nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2018/0002197 ngày 11/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Chị Đỗ Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày tuyên án.
Anh Khuất Tiến V vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai để đề nghị xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS ND tỉnh, huyện; - THADS huyện Phù Ninh; - Các đương sự; - UBND xã PN; - Lưu: HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Tạ Thị Hồng Ngân |