vanban.org

Bản án 01/2020/HNGD-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị C: Chị Lò Thị C được ly hôn anh Lường Văn T. Về con chung: Giao cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến khi cháu Lường Thị TT đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Anh T và ô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lò Thị C xin ly hôn Lường Văn T"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƯỜNG ẢNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HNGD-ST
Ngày 16 tháng 6 năm 2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Hùng

2. Bà: Mai Thị Trường

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Lục, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Tuân – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HN&GĐ ngày 17 tháng 02 năm 2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

- Họ và tên: Lò Thị C; sinh năm: 1996.

- Nơi cư trú: Bản CM, xã MĐ, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị C: Bà Lò Thị KH – Trợ giúp viên pháp lý, nơi công tác Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. (Có mặt)

2. Bị đơn:

- Họ và tên: Lường Văn T; sinh năm: 1990.

- Nơi cư trú: Bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Họ và tên: Lường Văn Y,

- Nơi cư trú: Bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 13/02/2020; tại bản tự khai ngày 18/02/2020 nguyên đơn chị Lò Thị C trình bày:

* Về hôn nhân: Tôi và anh Lường Văn T tổ chức đám cưới và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012. Đến năm 2015 tôi và anh T làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên vào ngày 27/3/2015. Trước khi lấy nhau hai bên tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Trong quá trình chung sống, tôi và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Chồng tôi là anh Lường Văn T không yêu thương, quan tâm chăm sóc tôi và con chung, không vun vén cho hạnh phúc gia đình. Từ tháng 8/2016 đến nay tôi và anh T đã sống ly thân. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng tôi đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lường Văn T.

* Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có 01 người con chung, tên cháu là Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012. Hiện tại cháu Lường Thị TT đang ở cùng với chồng tôi là anh Lường Văn T, tại bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Nguyện vọng của tôi là sau khi ly hôn tôi nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Lường Thị TT cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tôi không yêu cầu anh Lường Văn T cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Lường Thị TT cùng tôi.

* Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung T về: Tôi và anh T không có, không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa ngày hôm nay chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lường Văn T; chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có như nội dung đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã trình bày.

* Bị đơn: Anh Lường Văn T mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng anh T vẫn vắng mặt.

* Trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012 và tiến hành lấy lời khai của ông Lường Văn Y, trú tại bản HN, xã AC, huyện MA (là bố đẻ của anh Lường Văn T và là ông nội của cháu Lường Thị TT) hiện cháu Lường Thị TT đang ở cùng với ông Y.

- Nguyện vọng của cháu Lường Thị TT: Cháu có nguyện vọng được ở với bố.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/2/2020 và tại phiên tòa ông Y trình bày: Ông Y không có ý kiến gì về việc chị C xin ly hôn anh T. Trong quá trinh chung sống anh T và chị C có một người con chung là cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012, hiện cháu đang sống cùng với ông bà tại bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Lý do cháu Lường Thị TT sống cùng ông bà là khi vợ chồng con ông là anh T chị C sống ly thân từ tháng 8/2016 đến nay thì cháu Lường Thị TT sống cùng anh T, thỉnh thoảng anh T đi làm ăn xa có gửi cháu Lường Thị TT để ông bà chăm sóc. Thời gian gần đây anh T đi làm ăn xa, làm ở đâu ông cũng không biết và anh T cũng không hay về nhà, hiện cháu Lường Thị TT đang sống cùng ông bà. Ông đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lường Thị TT cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Thị TT đến khi cháu Lường Thị TT đủ 18 tuổi.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu của chị C là có căn cứ và hợp pháp. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C cụ thể như sau:

Thứ nhất về hôn nhân: Chị C và anh T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 27/3/2015 tại UBND xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống, chị C và anh T phát sinh nhiều mâu Thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 8/2016 đến nay chị và anh T đã sống ly thân. Vợ chồng anh chị sống ly thân đã lâu, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị C và tuyên bố chị C được ly hôn anh T.

Thứ hai về con chung: Chị Lò Thị C và anh Lường Văn T có một người con chung là cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012, hiện cháu đang sống cùng với ông bà nội tại bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Nguyện vọng của chị C sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Thị TT đến khi cháu Lường Thị TT đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Theo lời khai của ông Y và ý kiến của cháu Lường Thị TT thì anh T thường xuyên đi làm ăn xa; ông Y không biết anh T làm gì ở đâu, thường xuyên gửi cháu Lường Thị TT để ông chăm sóc. Hiện tại cháu Lường Thị TT còn nhỏ, là con gái do vậy rất cần sự chăm sóc của người mẹ và để bảo đảm sự phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần của cháu Lường Thị TT. Đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị C về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

Thứ ba: Trong quá trình chung sống chị C và anh T không có tài sản chung; Nợ chung phải trả, nợ chung lấy về không có.

Về án phí: Chị C là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án miễn toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị C.

* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.

Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Lò Thị C được ly hôn anh Lường Văn T

- Con chung: Giao cháu cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến khi cháu Lường Thị TT đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C.

- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Đương sự không yêu cầu.

- Án phí: Miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho chị C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Ngày 17/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt cho bị đơn, anh Lường Văn T vắng mặt tại nhà, Tòa án đã tiến hành giao Thông báo thụ lý cho ông Lường Văn Y, trú tại bản HN, xã AC, huyện MA (là bố đẻ của anh Lường Văn T) và tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.

Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, Tòa án ra Thông báo hòa giải lần 2, đã tiến hành tống đạt và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại 02 buổi hòa giải. Do vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt và niêm yết Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 27/5/2020, Nguyên đơn là chị Lò Thị C vắng mặt có lý do (Có đơn xin vắng mặt), bị đơn là anh Lường Văn T vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 16/6/2020.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn là chị Lò Thị C (có mặt); Bị đơn là anh Lường Văn T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, ông Lường Văn Y là bố đẻ của anh T và là ông nội của cháu Lường Thị TT có mặt tại phiên tòa, mặc dù không có ai đề nghị đưa ông Y vào tham gia tố tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết để ông Y tham gia phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Căn cứ khoản 4 Điều 68 BLTTDS Hội đồng xét xử đưa ông Y vào tham gia tố tụng tại phiên tòa với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nội dung vụ án:

* Về hôn nhân: Theo đơn Xin ly hôn đề ngày 13/02/2020; bản tự khai ngày 18/02/2020 của nguyên đơn chị Lò Thị C; lời trình bày của chị C tại phiên tòa và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Chị C và anh T lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 27/3/2015 tại UBND xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trong quá trình chung sống, chị C và anh T phát sinh nhiều mâu Thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Anh Lường Văn T không yêu thương, quan tâm chăm sóc vợ và con chung, không vun vén cho hạnh phúc gia đình. Từ tháng 8/2016 đến nay chị và anh T đã sống ly thân. Xét thấy, vợ chồng anh chị sống ly thân đã lâu, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T đã mâu Thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lò Thị C. Tuyên xử cho chị Lò Thị C được ly hôn với anh Lường Văn T.

* Về con chung: Chị Lò Thị C và anh Lường Văn T có một người con chung là cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012, hiện cháu đang sống cùng với ông bà nội tại bản HN, xã AC, huyện MA, tỉnh Điện Biên.

Chị C có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lường Thị TT đến khi cháu Lường Thị TT đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Mặc dù nguyện vọng của cháu Lường Thị TT muốn được ở với bố, ý kiến của ông Y đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lường Thị TT cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện nay cháu Lường Thị TT còn nhỏ, là con gái, cần sự chăm sóc của người mẹ và để bảo đảm sự phát triển về cả thể chất lẫn tinh thần của cháu Lường Thị TT, hơn nữa theo trình bày của ông Y thì anh T thường xuyên đi làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc con, anh T phải gửi cháu Lường Thị TT cho ông bà chăm sóc, hiện nay cháu Lường Thị TT đang ở cùng với ông bà vì anh T đi làm ăn xa và không có ở nhà. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận nguyện vọng của chị C về việc giao nuôi con chung cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.

* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ lấy về: Chị C và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Chị C là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Hội đồng xét xử miễn án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị C.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS 2015.

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị C: Chị Lò Thị C được ly hôn anh Lường Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Lường Thị TT, sinh ngày 30/11/2012 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến khi cháu Lường Thị TT đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; Anh T và ông Lường Văn Y, bà Lò Thị T (là ông bà nội của cháu Lường Thị TT) có trách nhiệm giao cháu Lường Thị TT cho chị C. Thời điểm giao nuôi cháu Lường Thị TT kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị C.

Anh T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Đương sự không yêu cầu giải quyết,

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Lò Thị C.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Chị Lò Thị C; ông Lường Văn Y có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/6/2020). Anh Lường Văn T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ