vanban.org

Bản án 01/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị T, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn N. Về con chung: Giao cho chị Lương Thị T trực tiếp nuôi con chung của chị T và anh N là cháu Nguyễn Xuân B; anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ: Lương Thị T - Nguyễn Văn N"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị T, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƢ THANH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HNGĐ-ST.
Ngày: 23-7-2020.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Len

2. Ông Lương Văn Mừng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Xuân Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 133/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-HNGĐ, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Thị T - Sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn K, xã T1, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Có mặt.

Người vảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H - trợ giúp viên pháp lý của chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4 thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N - Sinh năm 1993

Địa chỉ: Thôn Đồng Tâm, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 17/12/2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Lương Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn N tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012; đến ngày 11/12/2014 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã Thành Kỳ, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do: Anh N thường hay uống rượu say, đánh đập, chửi bới vợ con. Gia đình hai bên và chính quyền địa phương có nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Không chịu được cuộc sống chung với anh N nên chị đã về nhà mẹ đẻ sống từ đầu năm 2019 và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay.

Xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung thực tế đã không còn, nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh N được ly hôn.

Về con chung, chị Lương Thị T trình bày: Chị và anh N có 01 con chung là Nguyễn Xuân B, sinh ngày 28/7/2013. Hiện nay cháu B đang ở với chị T và phát triển bình thường về thể chất, trí tuệ.

Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Xuân B; chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản và công nợ: Chị Lương Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Lương Thị T đề nghị được chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Kèm theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Lương Thị T còn nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ gồm: Trích lục kết hôn; bản sao giấy khai sinh cháu Nguyễn Xuân B; trích Biên bản hòa giải tại cơ sở; Giấy chứng minh nhân dân của chị T và sổ hộ khẩu gia đình chị (bản sao có chứng thực); Giấy xin xác nhận địa chỉ của bị đơn; Biên lai thu tiền tạm ứng án phí; Giấy xin xác nhận thu nhập và nghề nghiệp có xác nhận của UBND xã nơi chị cư trú.

* Về bị đơn: Quá trình hòa giải tại cơ sở, anh Nguyễn Văn N không đồng ý ly hôn chị T. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự đến Tòa án để trình bày quan điểm về vụ án, Thông báo hòa giải, thông báo hoãn phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa; nhưng anh N không có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không thể tiếp cận được với anh N để lấy lời khai của anh.

* Tại biên bản xác minh ngày 09/3/2020, ông Hà Thanh B, là trưởng thôn Đ, xã T đồng thời là bác của anh Nguyễn Văn N trình bày:

1. Về hôn nhân: Anh N và chị T kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được khoảng thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh N thường hay uống rượu say, đánh đập, chửi bới vợ con; dẫn đến vợ chồng liên tục xảy ra xung đột, xúc phạm nhau, dẫn đến mất an ninh, trật tự trên địa bàn. Gia đình hai bên và chính quyền địa phương có nhiều lần khuyên giải nhưng không có kết quả. Hiện nay anh N, chị T đã sống ly thân.

2. Về con chung: Anh N và chị T có 01 con chung là cháu: Nguyễn Xuân B, sinh năm 2013. Hiện nay cháu B đang ở với chị T. Bản thân anh N không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên vắng nhà, hay say rượu nên điều kiện kinh tế gia đình rất khó khăn. Mặt khác, bố đẻ anh N bị hỏng cả hai mắt, gia đình không chăm sóc được mà phải nhờ đến sự hỗ trợ của họ hàng, làng xóm. Với hoàn cảnh của anh N như trên thì rất khó để nuôi dạy và chăm sóc con nhỏ.

* Tại bản tự khai ngày 18/12/2019, cháu Nguyễn Xuân B trình bày: Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

* Tại phiên tòa:

- Chị Lương Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Theo đó, chị đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Văn N và được trực tiếp nuôi cháu B; chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Hương đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị miễn án phí cho nguyên đơn

- Bị đơn là anh Nguyễn Văn N vẫn không đến tham gia phiên tòa dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.

* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về Luật Tố tụng Dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đều không có mặt theo yêu cầu của Tòa án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Lương Thị T về việc ly hôn và trách nhiệm nuôi con chung. Theo đó, đề nghị xử cho chị T được ly hôn anh N và được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Xuân B. Đề nghị không buộc anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Về án phí, đề nghị miễn án phí cho chị T theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các bên đương sự là về ly hôn và trách nhiệm nuôi con chung; bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa nên Tòa án nhân dân huyện Như Thanh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh Nguyễn Văn N các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có: Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa kèm theo giấy triệu tập đến phiên tòa, nhưng anh N không có mặt theo yêu cầu của Tòa án nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh N.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị T và anh Nguyễn Văn N tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012; đến ngày 11/12/2014 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh N từ ngày 11/12/2014 đến nay là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian sống chung, anh N thường hay say rượu rồi có hành vi bạo hành vợ, con nên mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng; chị T và anh N đã sống ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, chứng tỏ đời sống hôn nhân thực tế đã không còn; gia đình hai bên và chính quyền địa phương đã hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả nên mục đich hôn nhân không đạt được. Vì vậy, nghĩ nên cho chị T được ly hôn anh N là phù hợp với quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Xét nguyện vọng của chị T về trách nhiệm nuôi con thấy rằng: Hiện nay anh N không có công việc và thu nhập ổn định nên không đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con chưa thành niên. Ngược lại, chị T có thu nhập ổn định; trong thời gian vợ chồng sống ly thân, chị T đã trực tiếp nuôi cháu B, đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người mẹ đối với con của mình; nguyện vọng nuôi con của chị cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu B. Nghĩ nên chấp nhận nguyện vọng của chị T, giao cháu Nguyễn Xuân B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Nguyễn Văn N không có công việc và thu nhập ổn định, kinh tế gia đình có nhiều khó khăn nên không buộc anh N cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

Về tài sản và công nợ: Chị T, anh N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Lương Thị T là nguyên đơn nên phải chịu toàn bộ án phí ly hôn. Nhưng chị là người dân tộc thiểu số, cư trú tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; nghĩ nên miễn án phí cho chị T là phù hợp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 điều 227; Điều 235; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào: điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị T, cụ thể như sau:

Về hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cho chị Lương Thị T trực tiếp nuôi con chung của chị T và anh N là cháu Nguyễn Xuân B; anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh N có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Miễn án phí ly hô sơ thẩm cho chị Lương Thị T. Trả lại cho chị T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh, theo biên lai số AA/2018/0006322 ngày 17/12/2019.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ