vanban.org

Bản án 01/2020/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 21/04/2020 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Văn N, Nguyễn Thị Ng kiện yêu cầu hủy GCNQSD đất và công văn trả lời đơn"
  • Căn cứ chính? Nghị định số 181/2004/NĐ-CP Về thi hành Luật Đất đai; Điều 123 Luật Đất đai; Điều 158 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/HC-ST
Ngày: 21 - 4 - 2020
“V/v yêu cầu hủy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và hủy
văn bản trả lời đơn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Anh

Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn Hải Đường

2- Ông Đinh Minh Hải

- Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Vũ Viết Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 48/2019/TLST-HC ngày 07 tháng 8 năm 2019 về việc “Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy văn bản trả lời đơn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QĐXXST-HC, ngày 26 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: 1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967 (Có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1963 (Có mặt)

Đều trú tại: Thôn P, xã L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Ng: Ông Nguyễn Thanh B - Luật sư Văn phòng luật sư BM. (Có mặt)

* Người bị kiện:1. y ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

2. Ch tịch y ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Địa chỉ: thị trấn Lim, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Đại diện theo y quyền: Ông Nguyễn Công K - Phó Ch tịch y ban nhân dân huyện Tiên Du (Có mặt)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Cụ Nguyễn Thị C, sinh năm 1917 (Đại diện theo y quyền: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1955 – N i dung y quyền tại Biên bản ghi lời khai ngày 25/11/2019, (Bà T có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1956 (Có mặt)

3. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1931 (Có đơn xin xử vắng mặt)

4. Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1983 (Có đơn xin xử vắng mặt)

5. Ông Vũ Văn C, sinh năm 1960 (Có đơn xin xử vắng mặt)

Đều trú tại: Thôn P, xã L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

6. y ban nhân dân xã L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

Đại diện theo y quyền: Ông Ngô Lương X - Phó ch tịch y ban nhân dân xã L, huyện Tiên Du. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại các đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng phía người khởi kiện là ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Ng trình bày:

Ông bà và các h dân khác là người dân sinh sống bao đời nay tại thôn P, xã L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trước đây, các gia đình đều có ngõ đi chung và rãnh thoát nước chung gần đất c a cụ Nguyễn Thị C ra sau làng - nay là đường 276.

Sự việc ông T, bà M là con c a cụ C tự ý xây bịt lối đi chung làm cho các h dân ở trong ngõ không có lối đi ra đường sau làng và làm tắc đường chảy c a cả xóm, mùa mưa nước và nước sinh hoạt hẳng ngày giềnh lên không thoát được, làm môi trường xung quanh ô nhiễm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe c a người dân. Quá trình giải quyết vụ việc xây bịt lối đi trái phép nêu trên thì v a qua ông bà mới biết vào năm 2007 y ban nhân dân (sau đây viết tắt UBND) huyện Tiên Du đã cấp iấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt: CNQSDĐ) số AI 170586 thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29 diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C, nhưng lại g p cả diện tích đất ngõ đi chung và rãnh thoát nước c a cả xóm vào diện tích đất cấp GCNQSDĐ cho cụ C. Việc cấp CNQSDĐ này cho cụ C đã gây ảnh hưởng đến quyền lợi về lối đi, rãnh thoát nước c a các h dân trong ngõ nên sau khi biết được sự việc ông bà đã có đơn khiếu nại gửi UBND huyện Tiên Du đề nghị giải quyết.

Ngày 21/9/2017, UBND huyện Tiên Du đã có Văn bản số 1028/UBND-TNMT có n i dung xác định con cụ C có hành vi xây cổng lấp đường nước chảy, bịt ngõ đi chung c a xóm ra đường tỉnh l 276. Thế nhưng mặc dù xác định có ngõ đi chung nhưng UBND huyện Tiên Du vẫn khẳng định hồ sơ cấp CNQSDĐ đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29 diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C là đúng quy định pháp luật.

Không đồng ý với Văn bản này, ông bà tiếp tục có đơn khiếu nại tới Ch tịch UBND huyện Tiên Du. Ngày 14/6/2018, Ch tịch UBND huyện Tiên Du có Văn bản số 643/UBND-TTr có n i dung: iữ nguyên n i dung đã trả lời tại Văn bản số 1028/UBND-TNMT ngày 21/09/2017 c a UBND huyện và hướng dẫn các h dân khởi kiện ra Tòa án để giải quyết ngõ đi chung.

Ông bà lại tiếp tục khiếu nại đến Ch tịch UBND tỉnh Bắc Ninh. Ngày 29/11/2018, Ch tịch UBND tỉnh Bắc Ninh có Văn bản số 4613/UBND-NC hướng dẫn ông bà đến Tòa án để được giải quyết.

Nay ông bà khẳng định CNQSDĐ đứng tên cụ C nhưng không phải do cụ C kê khai mà do ông Ngô Đình T là con trai cụ C tự ý kê khai nên việc kê khai cấp GCNQSDĐ cho cụ C không đúng thực tế. Tại sổ mục kê và bản đồ năm 1976 và năm 1986 thì thửa đất c a cụ C có diện tích 648m2 có thể hiện con đường ngõ xuyên suốt ra sau làng (nay là đường 276). Năm 2005, cụ C đã tách m t phần đất c a mình cho con gái là bà T diện tích 77m2 nhưng sổ mục kê và bản đồ năm 2005 vẫn còn thể hiện diện tích c a cụ C là 640m2 và đồng thời không còn con đường ngõ như trước kia nữa mà đã thể hiện trong thửa đất c a cụ C. Đồng thời, hiện trạng sử dụng đất c a cụ C đã có việc xây tường vây ngăn cách với ngõ đi chung; ngõ đi hoàn toàn tách biệt với phần diện tích đất c a cụ C. Do đó diện tích cấp CNQSDĐ cho cụ C hiện tại vẫn là 640m2 là không đúng.

Tại iấy xác nhận c a cụ C ngày 28-9-2017 và Biên bản làm việc ngày 07/9/2018 cụ C cũng đã th a nhận nguồn gốc ngõ đi là c a tập thể chứ không phải c a gia đình cụ C, việc cấp GCNQSDĐ cho cụ bao gồm cả diện tích đất ngõ đi chung là không đúng. Cụ C cũng đề nghị cấp có thẩm quyền h y bỏ quyết định cấp đất năm 2007 để cấp lại CNQSDĐ theo đúng diện tích đất thực tế c a gia đình cụ, trả lại ngõ đi, rãnh thoát nước chung cho tập thể. Tuy nhiên t đó đến nay UBND huyện Tiên Du vẫn cho rằng việc cấp CNQSDĐ là đúng và không có sự điều chỉnh đề trả lại ngõ đi chung c a người dân.

Nay ông bà khởi kiện đề nghị Tòa án:

1. H y Văn bản số 643/UBND-TTr ngày 14/6/2018 c a Ch tịch UBND huyện Tiên Du.

2. H y Văn bản số 1028/UBND-TNMT ngày 21/09/2017 c a UBND huyện Tiên Du.

3. H y iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 170586 thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29 diện tích 640m2 ngày 19 tháng 07 năm 2007 c a UBND huyện Tiên Du cấp cho cụ Nguyễn Thị C.

4. Kiến nghị UBND huyện Tiên Du cắm mốc giới thửa đất c a cụ C và ngõ đi chung để trả lại ngõ đi chung cho tập thể.

* Bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Th, ông Vũ Văn C đều thống nhất với ý kiến c a ông N bà Ng, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu c a ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho những h gia đình bị ảnh hưởng quyền lợi bởi việc cấp CNQSDĐ trái pháp luật c a UBND huyện Tiên Du gây ra.

* Đại diện UBND huyện Tiên Du trình bày:

Tại tờ bản đồ địa chính năm 1986 thì cụ Nguyễn Thị C là ch sử dụng thửa đất số 201, diện tích 648m2 tại thôn P, xã L, huyện Tiên Du. Đến năm 2005 thửa đất số 201 này được tách thành 02 thửa gồm: thửa số 3562, diện tích 640m2 do cụ Nguyễn Thị C là ch sử dụng và thửa số 3563, diện tích 77m2 do cụ C cho con gái là Ngô Thị T quản lý sử dụng.

Ngày 05/8/2005, UBND xã L lập hồ sơ cấp CNQSDĐ cho h gia đình cụ Nguyễn Thị C. Ngày 19/7/2007, UBND huyện Tiên Du ban hành Quyết định số 289/QĐ-UBND về việc cấp CNQSDĐ cho 411 h gia đình cá nhân tại xã L, trong đó có cụ Nguyễn Thị C được cấp CNQSDĐ số AI 170586 đối với thửa số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2.

Sau khi nhận được đơn c a m t số h dân thôn P, xã L về việc đề nghị kiểm tra hồ sơ cấp CNQSDĐ cho h cụ Nguyễn Thị C, UBND huyện Tiên Du đã tiến hành xác minh và ban hành các văn bản trả lời công dân cụ thể như sau:

- Ngày 21/9/2017,UBND huyện Tiên Du ban hành Văn bản số 1028/UBND-TNMT về việc trả lời đơn công dân thôn P, xã L với n i dung cấp CNQSDĐ cho cụ Nguyễn Thị C đối với với thửa số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 tại thôn P, xã L là đúng quy định.

- Ngày 14/6/2018, Ch tịch UBND huyện Tiên Du tiếp tục ban hành Văn bản số 643/UBND-TTr về việc trả lời đơn công dân thôn P, xã L với n i dung: iữ nguyên Văn bản số 1028/UBND-TNMT c a UBND huyện Tiên Du.

-Ngày 29/11/2018,UBND tỉnh Bắc Ninh ban hành Văn bản số 4613/UBND-NC về việc trả lời đơn ông Nguyễn Văn N xã L, huyện Tiên Du với n i dung: iữ nguyên hiện trạng sử dụng đất, giữ gìn an ninh trật tự địa phương, thường xuyên duy trì khơi thông rãnh thoát nước, đảm bảo vệ sinh môi trường khu vực trên.

Thửa đất c a cụ Nguyễn Thị C có Bản đồ c a 3 thời kỳ là năm 1976 và năm 1986 có thể hiện ngõ đi nhưng đến Bản đồ năm 1993 thì không còn thể hiện ngõ đi nữa. Đối với Bản đồ năm 1993 là bản đồ chính quy được các cấp có thẩm quyền phê duyệt và đây là căn cứ để kê khai đăng ký cấp CNQSDĐ. Về trình tự th tục cấp CNQSDĐ đều đã được thực hiện đúng quy định, được công khai đầy đ cho người dân, không ai có ý kiến khiếu nại gì. Trong đó, khi cấp GCNQSDĐ cũng có chữ ký giáp ranh c a bà T. Vì vậy UBND huyện Tiên Du cho rằng việc cấp CNQSDĐ và ban hành Văn bản số 1028 và Văn bản số 643 là đúng quy định. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật, UBND huyện Tiên Du sẽ thực hiện theo Bản án có hiệu lực pháp luật c a Tòa án.

* Đại diện UBND xã L trình bày:

Nguồn gốc đất c a cụ Nguyễn Thị C tại thôn P, xã L, huyện Tiên Du là do ông cha để lại. Theo Bản đồ năm 1976 mảnh đất này là thửa số 487, diện tích 648m2. Theo Bản đồ địa chính năm 1986, cụ Nguyễn Thị C là ch sử dụng. Hiện trạng sử dụng đất c a cụ C xung quanh đất đã được xây tường bao bằng gạch.

Đến năm 2005, thửa đất số 201 nêu trên được tách thành 02 thửa gồm:

+ Thửa số 3562, diện tích 640m2 do cụ Nguyễn Thị C là ch sử dụng đất.

+ Thửa số 3563, diện tích 77m2 do bà Ngô Thị T là con gái cụ Nguyễn Thị C quản lý sử dụng.

Ngày 05/8/2005, các h dân trên địa bàn thôn P tiến hành th tục lập hồ sơ đề nghị cấp CNQSDĐ. UBND xã L đã lập hồ sơ cấp CNQSDĐ cho thửa đất c a cụ Nguyễn Thị C và bà Ngô Thị T theo đúng trình tự th tục, được niêm yết công khai đúng quy định pháp luật; tại thời điểm cấp CN không có tranh chấp khiếu nại gì. Toàn b hồ sơ đề nghị cấp CNQSDĐ đã được UBND huyện Tiên Du thẩm tra đẩy đ và ngày 19/7/2007, UBND huyện Tiên Du đã cấp CNQSDĐ cho 411 h gia đình cá nhân tại xã L, trong đó có CNQSDĐ c a cụ Nguyễn Thị C và bà Ngô Thị T.

Năm 2017, m t số h dân trong thôn có đơn đề nghị cụ C phải trả lại diện tích ngõ đi nằm trong CNQSDD c a cụ C. Việc này sau đó cũng đã được UBND huyện Tiên Du giải quyết theo quy định. UBND xã L thống nhất với ý kiến giải quyết c a UBND huyện Tiên Du. Nay các h dân khởi kiện tại Tòa án về việc yêu cầu h y CNQSDĐ do UBND huyện Tiên Du đã cấp cho cụ Nguyễn Thị C thì UBND xã L đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh giải quyết vụ án theo quy định c a pháp luật.

* Cụ Nguyễn Thị C và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Nguồn gốc thửa đất này là c a ông cha để lại cho cụ Nguyễn Thị C, diện tích thửa đất này t xưa đến nay chỉ khoảng 640m2, cụ C sử dụng ổn định, xây dựng tường bao quanh hiện trạng thửa đất t lâu đời, tách biệt với ngõ đi chung c a tập thể. Trong tổng diện tích đất này cụ C đã cắt cho con gái là Ngô Thị T m t phần với diện tích là 77m2; sau đó bà T cũng đã được UBND huyện Tiên Du cấp CNQSDĐ đối với diện tích 77m2 này nên diện tích còn lại không thể vẫn là 640m2 được. Việc kê khai cấp sổ cho cụ C không phải do cụ thực hiện mà là do con trai Ngô Đình T tự ý kê khai không đúng hiện trạng. Do đó, việc UBND huyện Tiên Du cấp CNQSDĐ cho cụ C diện tích 640m2 là không đúng với hiện trạng sử dụng đất. Việc cấp CN sai thì chính quyền phải tự sửa chữa lại cho đúng. Nay cụ C đề nghị các cấp có thẩm quyền xem xét cấp lại sổ đỏ c a cụ theo đúng hiện trạng sử dụng đất và khẳng định cụ không lấn chiếm ngõ đi chung c a tập thể.

* Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ông N và bà Ng giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện và thống nhất trình bày cho rằng ngõ đi chung c a xóm giáp đất c a cụ C đã tồn tại t rất lâu, con ngõ này thể hiện thông suốt t đường làng ra đến đường 276 song do trước đây đường 276 là đường đất nên mọi người ít đi lối này, phần diện tích đất c a cụ C đã được cụ C xây tường bao quanh ngăn cách với lối đi chung c a xóm t rất lâu nên việc UBND huyện Tiên Du cấp CNQSDĐ cho cụ C với diện tích 640m2 là bao trùm cả m t phần ngõ đi chung c a tập thể vì vậy ông bà đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a ông bà.

- Đại diện UBND huyện Tiên Du trình bầy vẫn giữ nguyên các quyết định hành chính đã ban hành, trong trường hợp H i đồng xét xử đánh giá xét thấy việc cấp CNQSDĐ cho cụ C và các văn bản trả lời đơn c a UBND và Ch tịch UBND huyện Tiên Du đối với các công dân là không phù hợp thì H i đồng xét xử xem xét xử lý theo quy định pháp luật, UBND huyện Tiên Du sẽ tôn trọng sự phán quyết c a Tòa án.

- Đại diện UBND xã L trình bày cho rằng về trình tự, th tục khi cấp CNQSDĐ cho cụ C là phù hợp với quy định, thời điểm gia đình kê khai mặc dù chưa đầy đ vì không có vản bản y quyền c a cụ C cho ông T nhưng khi ông T là con cụ C kê khai thay cụ C thì cả gia đình đều biết, khi thực hiện th tục kê khai cấp CN, UBND xã đã công khai, niêm yết các th tục tại trụ sở đồng thời các h giáp ranh đều ký nhận và trong thời gian niêm yết UBND xã không nhận được đơn thư khiếu nại gì. Đối với việc tại sao bản đồ năm 1976 và 1986 thể hiện ngõ đi thông suốt ra đường 276 nhưng đến bản đồ năm 1993 thì không thể hiện ngõ đi thông suốt, đại diện UBND xã L cho biết không nắm rõ được vấn đề này. Về yêu cầu khởi kiện c a ông N, bà Ng thì phía UBND xã L cũng đồng nhất quan điểm c a UBND huyện Tiên Du.

- Bà Ngô Thị T trình bày xác nhận CNQSDĐ mà UBND huyện Tiên Du đã cấp cho m bà với diện tích 640m2 là bao gồm cả m t phần ngõ đi chung c a xóm, việc này là do l i c a cán b địa phương chứ không phải do m bà lấn chiếm đất c a tập thể vì phần diện tích đất c a cụ C đã được xây quây kín tách biệt hoàn toàn với ngõ đi c a xóm do vậy bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện c a ông N, bà Ng đề nghị h y CNQSDĐ do UBND huyện Tiên Du đã cấp cho cụ C và yêu cầu UBND huyện Tiên Du cấp lại CNQSDĐ mới phù hợp với hiện trạng diện tích đất cụ C đang sử dụng.

- Luật sư Nguyễn Thanh B trình bày quan điểm cho rằng việc cấp CNQSDĐ cho cụ C c a UBND huyện Tiên Du là trái quy định phát luật, vi phạm trình tự, th tục cấp khi ch sử dụng đất không phải là người kê khai đất nhưng cũng được chấp nhận, khi lập hồ sơ cấp CNQSDĐ không thẩm tra xác minh dẫn đến không xem xét đến bản đồ năm 1976 và 1986 mà căn cứ bản đồ năm 1993 do đó đã chứng nhận diện tích đất c a cụ C vào cả phần diện tích ngõ đi c a tập thể cho nên sai cả về hình thể, hiện trạng và diện tích đất. Bản thân gia đình cụ C cũng th a nhận ngõ đi không phải c a mình nên việc cấp CNQSDĐ này là không đúng vi phạm quy định c a Luật đất đai năm 2003 và Nghị định 181/2004 ngày 29/10/2004 c a Chính ph quy định về thi hành Luật đất đai. Văn bản số 1028 và Văn bản số 643 trả lời đơn c a các công dân là không phù hợp. Đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện c a bà Ng và ông N.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng c a Thẩm phán, H i thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và c a các đương sự tham gia tố tụng t khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm H i đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định c a pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 32; điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 49,50,52 Luật đất đai năm 2003; Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 c a Chính ph chấp nhận toàn b yêu cầu khởi kiện c a ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ng.

H y Công văn số 1028/UBND-TNMT ngày 21/09/2017 c a UBND huyện Tiên Du về việc trả lời đơn công dân; Công văn số 643/UBND-TTr ngày 14/6/2018 c a Ch tịch UBND huyện Tiên Du về việc trả lời đơn c a công dân thôn P, xã L; H y iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 170586 do UBND huyện Tiên Du cấp ngày 19/7/2007 đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến c a Kiểm sát viên và các quy định c a pháp luật, H i đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa ông Vũ Văn C, ông Nguyễn Văn Th, bà Nguyễn Thị L đều có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy, H i đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án, xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 158 Luật tố tụng hành chính.

[2] Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 08/4/2019, ông N và bà Ng gửi đơn khởi kiện yêu cầu h y CNQSDĐ c a cụ Nguyễn Thị C đến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh kèm theo tài liệu chứng cứ là bản photo Văn bản số 643/UBND-TTr ngày 14/6/2018 c a Ch tịch UBND huyện Tiên Du và Văn bản số 1028/UBND-TNMT ngày 21/09/2017 c a UBND huyện Tiên Du. Tại trung tâm hòa giải đối thoại tại TAND tỉnh Bắc Ninh các đương sự đối thoại không thành. TAND tỉnh Bắc Ninh đã hướng dẫn đương sự sửa đổi đơn khởi kiện theo quy định. Ngày 25/7/2019, ông N và bà Ng n p đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung trong đó yêu cầu h y cả Văn bản số 643, Văn bản số 1028 và CNQSDĐ. Như vậy, ông N bà Ng đã nhắc đến Văn bản số 643, Văn bản số 1028 t khi n p đơn khởi kiện ngày 08/4/2019 nên việc sửa đổi lại đơn khởi kiện không ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện đối với Văn bản số 643/UBND-TTr ngày 04/6/2018 c a Ch tịch UBND huyện Tiên Du.

Quyết định số 289/QĐ-UBND ngày 19/7/2007 c a UBND huyện Tiên Du về việc cấp CNQSDĐ đối với cụ Nguyễn Thị C,Văn bản số 1028 và CNQSDĐ là các Quyết định hành chính có liên quan đối với Văn bản số 643 nên sẽ được xem xét giải quyết trong cùng vụ án.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án “Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy văn bản trả lời đơn” là đúng đối tượng khởi kiện, đúng thẩm quyền cũng như thời hiệu khởi kiện theo quy định tại các Điều 30, 32, 116 Luật tố tụng hành chính.

[3] Xét đơn khởi kiện c a ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ng:

[3.1] Xét tính hợp pháp c a Quyết định số 289/QĐ-UBND ngày 19/7/2007 c a UBND huyện Tiên Du về việc cấp CNQSDĐ đối với cụ Nguyễn Thị C và CNQSDĐ số AI 170586 do UBND huyện Tiên Du cấp ngày 19/7/2007 đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C:

- Về thẩm quyền và trình tự th tục cấp CNQSDĐ: UBND huyện Tiên Du ban hành Quyết định số 289/QĐ-UBND và cấp CNQSDĐ cho cụ Nguyễn Thị C là đúng thẩm quyền và trình tự th tục quy định tại Điều 52, Điều 123 Luật đất đai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 c a Chính ph quy định về thi hành Luật đất đai.

- Về căn cứ cấp CNQSDĐ: Nguồn gốc thửa đất này là c a cụ Nguyễn Thị C do ông cha để lại, cụ C là người trực tiếp sử dụng đất t xưa đến nay nên việc cấp CN cho cụ C là đúng đối tượng sử dụng đất. Về diện tích thửa đất này thì theo Bản đồ địa chính năm 1986 thì đây là thửa số 201, diện tích 648m2, cạnh thửa đất này có thể hiện ngõ đi ra phía sau làng (nay là đường 276). Theo Bản đồ địa chính năm 1993 và năm 2001 thì đây là thửa 301, diện tích 836m2 bao gồm cả diện tích mua trái thẩm quyền c a thôn và cả diện tích ngõ đi trước đây do đó không thể hiện ngõ đi ra sau làng. Theo Bản đồ địa chính năm 2005 thì thửa đất c a cụ C có sự biến đ ng do tách thành thửa số 3562, diện tích 640m2 (không thể hiện ngõ đi) và thửa số 3563, diện tích 77m2 (không bao gồm diện tích đất bán trái thẩm quyền).

Theo cụ C và bà T là người đại diện theo y quyền trình bày thì thửa đất c a cụ t xưa đến nay chỉ có diện tích khoảng 640m2; cụ không lấn chiếm ngõ đi và năm 2005 cụ đã tách m t phần thửa đất c a mình cho con gái là bà T diện tích 77m2 (bà T cũng đã được cấp CN đối với diện tích đất này) nên diện tích đất còn lại c a cụ không thể vẫn là 640m2 được.

Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại ch đối với thửa đất nêu trên xác định hiện trạng sử dụng đất có thể hiện lối đi ra sau làng cạnh thửa đất c a cụ C diện tích 65m2 và toàn b diện tích đất c a cụ C đã được xây dựng tường gạch bao quanh t lâu; diện tích hiện trạng thực tế sử dụng c a cụ C là 582m2 chứ không phải là 640m2 như đã thể hiện trong GCNQSDĐ.

Kiểm tra Đơn đề nghị cấp CNQSDĐ ngày 05/8/2005 thì thấy cụ C không phải là người kê khai mà đều do con trai là ông Ngô Đình T kê khai thay nên đã xảy ra sai sót so với hiện trạng sử dụng đất thực tế.

Như vậy, thực tế ngõ đi chung ra đường 276 vẫn tồn tại t xưa đến nay và được thể hiện t Bản đồ địa chính năm 1986, đến nay ngõ đi vẫn tồn tại tách biệt hoàn toàn với hiện trạng sử dụng đất c a cụ Nguyễn Thị C. Việc UBND huyện Tiên Du cấp CNQSDĐ cho cụ Nguyễn Thị C đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 tại thôn P, xã L là không đúng diện tích sử dụng, không đúng hiện trạng sử dụng đất và cấp chồng lấn vào ngõ đi chung c a tập thể.

H i đồng xét xử thấy rằng mặc dù thẩm quyền và trình tự th tục cấp GCNQSDĐ được thực hiện đúng quy định nhưng việc cấp CNQSDĐ sai sót về diện tích, hiện trạng nên cần h y CNQSDĐ số AI 170586 do UBND huyện Tiên Du cấp ngày 19/7/2007 đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C để cấp lại cho đúng diện tích, hiện trạng và trả lại diện tích ngõ đi chung c a tập thể theo quy định c a pháp luật. Do đó, cần h y m t phần Quyết định số 289/QĐ-UBND ngày 19/7/2007 c a UBND huyện Tiên Du về việc cấp CNQSDĐ đối với cụ Nguyễn Thị C và h y CNQSDĐ số AI 170586 do UBND huyện Tiên Du cấp ngày 19/7/2007 đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C để cấp lại cho đúng quy định.

[3.2] Xem xét tính hợp pháp c a Văn bản số 1028/UBND-TNMT ngày 21/09/2017 c a UBND huyện Tiên Du về việc trả lời đơn công dân:

Sau khi nhận được đơn c a bà Nguyễn Thị Ng và m t số công dân thôn P, xã L phản ánh sự việc thì UBND huyện đã giao Phòng tài nguyên môi trường (sau đây viết tắt TNMT) xác minh. Căn cứ Báo cáo số 62/BC-TNMT ngày 13/9/2017 c a Phòng TNMT, ngày 21/09/2017 UBND huyện Tiên Du đã ban hành Văn bản số 1028/UBND-TNMT về việc trả lời đơn công dân là đúng thẩm quyền, đúng trình tự th tục theo quy định pháp luật.

Văn bản số 1028/UBND-TNMT có 02 n i dung trả lời nhưng đối với n i dung thứ nhất phản ánh về việc ông Ngô Đình T tự ý xây cổng bịt lối đi chung, lấp đường nước chảy c a xóm đã được giải quyết xong, cánh cổng đã tháo dỡ và khơi thông rãnh nước nên HĐXX không xem xét n i dung thứ nhất c a Văn bản này.

Đối với n i dung thứ hai về việc giải quyết cấp CN cho cụ C được UBND khẳng định là đầy đ và đúng theo quy định. Tuy nhiên, như đã nhận định ở trên việc cấp CN sai sót về diện tích, hiện trạng, chồng lấn vào ngõ đi chung nên cần h y CNQSDĐ số AI 170586 do UBND huyện Tiên Du cấp ngày 19/7/2007 đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C để cấp lại cho đúng diện tích, hiện trạng và trả lại diện tích ngõ đi chung c a tập thể theo quy định c a pháp luật. Do vậy, việc trả lời n i dung thứ hai c a Văn bản số 1028/UBND-TNMT là không đúng quy định, cần phải h y bỏ.

[3.3] Xem xét tính hợp pháp c a Văn bản số 643/UBND-TTr ngày 14/6/2018 c a Ch tịch UBND huyện Tiên Du về việc trả lời đơn c a công dân thôn P, xã L:

Ông N và bà Ng không đồng ý với Văn bản số 1028/UBND-TNMT nên tiếp tục có đơn gửi Bí thư huyện y và Ch tịch UBND huyện Tiên Du; ngày 13/12/2017 Phòng TNMT có Báo cáo số 86/BC-TNMT kết luận n i dung đơn c a công dân liên quan đến việc cấp CN thu c thẩm quyền giải quyết c a Tòa án. Ông N và bà Ng tiếp tục có đơn nên Ch tịch UBND huyện giao cho Thanh tra huyện xác minh. Ngày 14/6/2018, Thanh tra huyện Tiên Du có Báo cáo số 28/BC-TTr nên ngày 14/6/2018 Ch tịch UBND huyện Tiên Du ban hành Văn bản số 643/UBND-TTr là đúng thẩm quyền và đúng trình tự th tục.

Tuy nhiên, như đã nhận định ở trên việc trả lời n i dung thứ hai c a Văn bản số 1028/UBND-TNMT là không đúng quy định vì việc cấp CN không đúng diện tích, hiện trạng và chồng lấn diện tích ngõ đi chung c a tập thể. Do đó, cần h y toàn b Văn bản số 643/UBND-TTr.

[4] T những nhận định nêu trên, H i đồng xét xử thấy việc UBND huyện Tiên Du cấp CNQSDĐ cho cụ Nguyễn Thị C đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 tại thôn P, xã L là không đúng quy định pháp luật, gây ảnh hưởng đến quyền sử dụng ngõ đi c a các h dân. Việc UBND huyện Tiên Du ban hành Văn bản số 1028 (n i dung thứ hai) và Ch tịch UBND huyện Tiên Du ban hành Văn bản số 643/UBND-TTr là không đúng quy định. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện c a ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ng.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại ch : Theo yêu cầu c a ông N, bà Ng, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại ch đối với thửa đất c a cụ Nguyễn Thị C và chi phí hết số tiền 4.800.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện c a ông N và bà Ng được chấp nhận nên Ch tịch UBND huyện Tiên Du và UBND huyện Tiên Du phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại ch . Xác nhận ông N và bà Ng đã tạm ứng đối với số tiền thẩm định nêu trên nên UBND huyện Tiên Du phải trả lại cho ông N và bà Ng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại ch là 4.800.000 đồng.

[5] Về án phí: UBND huyện Tiên Du và Ch tịch UBND huyện Tiên Du phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định. Trả lại ông N và bà Ng số tiền tạm ứng án phí đã n p.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ Điều 32; Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348; Điều 358, Điều 359 Luật tố tụng hành chính;

Điều 52, Điều 123 Luật đất đai năm 2003 và Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 c a Chính ph quy định về thi hành Luật đất đai.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1- Chấp nhận toàn b các yêu cầu khởi kiện c a ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ng:

- H y m t phần Quyết định số 289/QĐ-UBND ngày 19/7/2007 c a y ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh về việc cấp iấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cụ Nguyễn Thị C.

- H y iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI 170586 do y ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 19/7/2007 đối với thửa đất số 3562, tờ bản đồ số 29, diện tích 640m2 cho cụ Nguyễn Thị C.

- H y m t phần Văn bản số 1028/UBND-TNMT ngày 21/09/2017 c a UBND huyện Tiên Du về việc trả lời đơn công dân đối với n i dung thứ hai.

- H y Văn bản số 643/UBND-TTr ngày 14/6/2018 c a Ch tịch y ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh về việc trả lời đơn c a công dân thôn P, xã L, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

- Kiến nghị y ban nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hiện th tục hành chính cấp lại iấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Thị C theo đúng hiện trạng sử dụng đất; cắm mốc giới thửa đất c a cụ C và ngõ đi chung để trả lại ngõ đi chung cho tập thể. Sau khi ngõ đi chung c a tập thể được cắm mốc, y ban nhân dân huyện Tiên Du và y ban nhân dân xã L có trách nhiệm duy trì, quản lý lối đi chung đảm bảo lối đi được thông suốt để đảm bảo việc sinh hoạt, đi lại c a các h dân.

Ch tịch UBND huyện Tiên Du và UBND huyện Tiên Du thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định c a pháp luật.

2. Về chi phí xem xét thẩm định tại ch : Ch tịch UBND huyện Tiên Du và UBND huyện Tiên Du phải trả lại cho ông N và bà Ng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại ch là 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng), cụ thể trả ông N 2.400.000đ; bà Ng 2.400.000đ.

3- Về án phí: Ch tịch UBND huyện Tiên Du và UBND huyện Tiên Du phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm.

Trả lại ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Ng m i người số tiền 300.000đ đã n p theo Biên lai số 0004535 và số 0004536 ngày 06/8/2019 c a Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.

Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày được tống đạt bản án hoặc kể t ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ