- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lý Thị D-Trần Thị N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/DS-ST Ngày 20 tháng 01 năm 2020 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Khởi
2. Bà Lưu Thị Tám
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Ông Lâm Thanh Dũng, Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” thụ lý số 252/2019/TLST-DS, ngày 24 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2019/QĐXXST-DS, ngày 17 tháng 12 năm 2019, và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-DS, ngày 02 tháng 01 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lý Thị D, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp C, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
2. Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn T
- Bà Trần Thị N
Cùng địa chỉ: ấp C, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 17/9/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lý Thị D trình bày:
Vợ chồng bà Trần Thị N, ông Nguyễn Văn T là chủ hụi, bà D là hụi viên tham gia các dây hụi sau:
- Dây 1: Hụi mùa 5.000.000 đồng, mở ngày 19/11/2012, có 15 phần, bà D tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 11 lần thì chủ hụi không tiếp tục khui hụi nữa, nên vợ chồng bà N, ông T còn nợ bà D 55.000.000 đồng.
- Dây 2: Hụi mùa 1.000.000 đồng, mở ngày 19/7/2010, có 19 phần, bà D tham gia 01 phần, đóng hụi sống được 16 lần thì chủ hụi không tiếp tục khui hụi nữa, nên vợ chồng bà N, ông T còn nợ bà D 16.000.000 đồng.
Tổng cộng 02 dây hụi, vợ chồng bà N, ông T còn nợ bà D 71.000.000 đồng, đến nay chưa trả.
Nay bà Lý Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị N có trách nhiệm trả cho bà số tiền hụi còn nợ; đồng thời tại phiên tòa, bà D đồng ý trừ hoa hồng cho chủ hụi 3.000.000 đồng, bà chỉ yêu cầu số tiền còn lại là 68.000.000 đồng.
Đối với các bị đơn bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật, nhưng bà N, ông T không đến tham dự, cũng không có ý kiến trả lời hoặc cung cấp lời khai cho Tòa án.
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn trả số tiền 68.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị N là bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về hình thức, nội dung và mục đích của hợp đồng góp hụi giữa các bên đương sự thấy rằng cả bà D, ông T và bà N đều là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, khi giao kết hợp đồng dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên hợp đồng góp hụi giữa vợ chồng ông T, bà N với bà D là hợp pháp.
Đối với phía bị đơn, các bị đơn đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án, biết được nội dung khởi kiện của nguyên đơn, nhưng khi Tòa án triệu tập để cung cấp lời khai thìkhông đến, cũng không tham gia phiên hòa giải do Tòa án tiến hành. Điều này cho thấy ông T, bà N đã từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, nên được coi là mặc nhiên thừa nhận.
Xét về lỗi: Ông T và bà N là người có lỗi, vì đã vi phạm nghĩa vụ do tổ chức các dây hụi mà không duy trì được đến ngày hụi mãn, số tiền góp hụi của các hụi viên chưa được tính toán để hoàn lại; chính việc vi phạm nghĩa vụ của ông T và bà N đã trực tiếp gây thiệt thòi đến quyền lợi của bà D, nên việc bà D khởi kiện là có căn cứ.
Về áp dụng pháp luật, Hợp đồng góp hụi được các bên ký kết và thực hiện tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực pháp luật; hợp đồng này đang được thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015; do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.
Từ phân tích trên, có căn cứ xác định vợ chồng ông T, bà N còn nợ bà D 71.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc ông T, bà N phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà D số tiền này theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự và Điều 30 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D đồng ý trả hoa hồng cho chủ hụi số tiền 3.000.000 đồng trừ vào số tiền mà bà D khởi kiện; yêu cầu khởi kiện còn lại và được Hội đồng xét xử chấp nhận để buộc bị đơn phải trả là 68.000.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 228; 244; 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 357; 468; 471và điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 27 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP, ngày 19/02/2019 của Chính Phủ, và các Điều 29, 30 và 31 của Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lý Thị D số tiền 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí: Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn T phải liên đới chịu 3.400.000 đồng.
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách; - Chi cục THA dân sự huyện K; - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng (để BC); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |