vanban.org

Bản án 01/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị H yêu cầu Nguyễn Văn P và Vương Thị Thương T trả 07 chỉ vàng 24kra"
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 119 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU KÈ
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2020/DS - ST
Ngày: 26/5/2020
V/v Tranh chấp hợp đồng vay vàng.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà hạm Thị M i.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Th y hượng

2. Ông Trần Quốc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Nhàn, Thư k T a án nhân dân huyện Cầu K , tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Tha, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở T a án nhân dân huyện Cầu K , tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số: 278/2020/TLST- DS ngày 18 tháng 02 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay vàng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST- DS ngày 13 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Bà Nguy n Thị H, sinh năm 1971 (có m t .

- Bị đơn: 1/ Ông Nguy n Văn P, sinh năm 1979 (v ng m t).

2/ Bà Vương Thị Thương T, sinh năm 1974 (có m t .

C ng địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng nhƣ tại phiên toà sơ thẩm, bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn trình bày: Ông Nguy n Văn P và à Vương Thị Thương T có h i mượn của à Nguy n Thị H số vàng 07 (bảy chỉ vàng 24k, mục đ ch để trả tiền mua xe tải. Trong đó vào tháng 3 năm 2017 âm lịch đưa trước cho vợ chồng ông P 06 (sáu chỉ vàng 24k. Đến tháng 4 năm 2017 âm lịch, à H đưa cho ông P mượn thêm 01 (một chỉ vàng 24k nữa, ông P nhận vàng tại nhà à H. Tổng cộng à H đã cho vợ chồng ông P mượn 07 ( ảy chỉ vàng 24k. o ch chị em nên không làm giấy tờ iên nhận gì cả, tuy nhiên đối với 06 chỉ vàng 24kara, à H giao cho chị ruột tên Nguy n Thị Nhành và à Nhành có kêu xe ôm đem giao tận nhà cho vợ chồng ông P và à T nhận, c n 01 chỉ vàng 24ka do ông P mượn sau thì không có ai chứng kiến. Nay à H cần đến số vàng trên nên yêu cầu vợ chồng ông P trả nhưng vợ chồng ông P không trả nên à H khởi kiện yêu cầu ông Nguy n Văn P c ng vợ là à Vương Thị Thương T phải trả 07 ( ảy chỉ vàng 24k. Bà H không yêu cầu t nh lãi.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P có đơn xin xét xử vắng mặt và có lời khai tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2020 nhƣ sau: Ông không nhớ vào thời gian nào, nhưng ông P thừa nhận ông và vợ là à Vương Thị Thương T có mượn của à Nguy n Thị H 06 (sáu chỉ vàng 24k, số vàng này do vợ chồng c ng mượn. Đối với 01 (một chỉ vàng 24k mượn sau là do ông P vay riêng, à T không iết. L c vay và l c trả do là ch chị em ruột nên không có làm giấy tờ gì, c ng không có người chứng kiến. Sau đó, ông và à T đã trả cho à H được 06 (sáu chỉ vàng 24k, khi trả không có viết iên nhận c ng không ai iết. Đối với 01 (một chỉ vàng 24k ông vay riêng, cho đến ông chưa trả và ông chỉ đồng một mình ông trả cho à Nguy n Thị H 01 (một chỉ vàng 24kara.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/3/2020 cũng nhƣ tại phiên tòa, bà Vƣơng Thị Thƣơng T là bị đơn trình bày: Bà T thừa nhận vào tháng 4 năm 2017 âm lịch ( à không nhớ ngày nào), vợ chồng à và ông Nguy n Văn P có mượn của à Nguy n Thị H 06 (sáu chỉ vàng 24k, khi h i mượn vàng không có làm iên nhận nhưng cách thức giao vàng như à H trình ày là đ ng. Sau đó, vài tháng à c ng chồng là ông T đã trả đủ cho à H 06 chỉ vàng 24k đã mượn rồi, vàng trả lại nhà à H. L c trả do là ch chị em ruột nên không có làm giấy tờ gì, chỉ có chồng à H chứng kiến, ngoài ra không ai iết. Đối với 01 (một chỉ vàng 24k là ông P vay riêng và ông P có nói với à là vay riêng nên à T không liên quan đến 01 chỉ vàng này. Bà T cho r ng vợ chồng à đã trả đủ vàng cho à H 06 chỉ vàng 24kara do vợ chồng c ng vay, c n lại 01 (một chỉ vàng 24k do ông P vay riêng nên à không có trách nhiệm đối với số vàng này, Nay à T không đồng trả vàng theo yêu cầu của à H.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè trình bày quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư k từ khi thụ l giải quyết vụ án đến khi Hội đồng xét xử xét xử vụ án đã chấp hành đ ng pháp luật tố tụng. Nguyên đơn và ị đơn đã thực hiện đ ng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Nguy n Văn P và à Vương Thị Thương T thừa nhận có mượn của à Nguy n Thị H 06 (sáu chỉ vàng 24k. Tuy nhiên, ông P và à T khai đã trả đủ 06 chỉ vàng 24k đã mượn nhưng không có chứng cứ chứng minh nên lời khai của ông P và à T không có căn cứ.

Đối với 01 (một chỉ vàng 24k ông P khai là mượn riêng, vợ ông không iết. Tuy nhiên, thời điểm ông Pông P mượn là trong thời k hôn nhân; à T c ng khai tiền ạc trong nhà vợ chồng c ng quản l và chi xài chung, công việc làm ăn chung, không có kinh doanh gì riêng. o đó, à T cho r ng đây là nợ riêng của ông P, à không có trách nhiệm là không có căn cứ chấp nhận. Căn cứ Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/12/2012 quy định về quản l , hoạt động kinh doanh vàng thì vàng s được quy đổi thành tiền, cho nên 07 chỉ vàng 24kara s quy đổi thành tiền tương đương 33.110.000 đồng (tại thời điểm xét xử 01 chỉ vàng 24kara tương đương 4.730.000 đồng .

o đó, uộc ông Nguy n Văn P và à Vương Thị Thương T phải có nghĩa vụ trả cho à Nguy n Thị H số tiền 33.110.000 đồng (tương đương với 07 chỉ àng 24k .

Ngoài ra, vị Kiểm sát viên c n đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án ph , lệ ph theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Nguy n Thị H khởi kiện yêu cầu T a án uộc ông Nguy n Văn P và à Vương Thị Thương T phải trả 07 chỉ vàng 24k à đã cho mượn, nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. M t khác, ông P và à T có hộ khẩu thường tr tại ấp Ô Ch ch, xã Thông H a, huyện Cầu K , tỉnh Trà Vinh. o đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện Cầu K , tỉnh Trà Vinh là đ ng thủ tục tố tụng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với yêu cầu trả 07 chỉ vàng 24k của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà H cho vợ chồng ông P và à T mượn vàng làm 02 lần. Một lần cho mượn 06 chỉ vàng 24k, tuy không làm giấy tờ, không có người chứng kiến nhưng à T và ông P đã thừa nhận là có mượn 06 chỉ vàng 24k của à H. o đó, việc mượn vàng là có thật, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T và ông P khai đã trả cho à H 06 chỉ vàng 24k nhưng à H không thừa nhận có sự việc này; à T và ông P lại không có chứng cứ để chứng minh nên lời khai của à T và ông P là không có căn cứ.

Một lần khác, à H cho ông P mượn 01 chỉ vàng 24k, ông P thừa nhận là ông có mượn nhưng chưa trả, c n à T thì cho r ng đây là nợ riêng của ông P, à không iết nên không có nghĩa vụ đối với khoản nợ riêng này của ông P. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Thời gian ông P mượn vàng c n trong thời k hôn nhân với à T, mục đ ch mượn vàng để làm gì ông P không nhớ, nhưng tại iên ản lấy lời khai ngày 07 tháng 4 năm 2010 à T khai tiền ạc trong nhà vợ chồng c ng quản l và chi xài chung, công việc làm ăn chung, không có kinh doanh gì riêng. o đó, căn cứ vào Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cả ông P và à T c ng có trách nhiệm liên đới đối với 01 chỉ vàng do ông P mượn.

Căn cứ Nghị định số 24/2012/NĐ-Cp ngày 03/12/2012 quy định về quản l , hoạt động kinh doanh vàng thì vàng s được quy đ i ra thành tiền, tại thời điểm xét xử 07 chỉ vàng 24kara tương đương 33.110.000 đồng (01 chỉ vàng 24kara tương đương 4.730.000 đồng).

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn ộ yêu cầu của à H. Buộc ông P và à T phải có nghĩa vụ trả cho à H 33.110.000 đồng là có căn cứ pháp luật.

Về án ph dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph T a án. Bị đơn phải chịu án ph dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn được T a án chấp nhận. Nguyên đơn không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm; hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp.

Về quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu K là có căn cứ và đ ng pháp luật nên được chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 116, 117, 119, Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Nghị định số 24/2012/NĐ-Cp ngày 03/12/2012 của Ch nh phủ quy định về quản l , hoạt động kinh doang vàng;

Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph T a án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn ộ yêu cầu khởi kiện của Nguy n Thị H.

Buộc ông Nguy n Văn P và à Vương Thị Thương T phải có nghĩa vụ trả cho à Nguy n Thị H số tiền 33.110.000 đồng (tương đương với 07 chỉ àng 24k. Giá 01 chỉ vàng 24k tại thời điểm xét xử ng 4.730.000 đồng .

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án ho c kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án ph dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguy n Văn H và à Vương Thị Thương T phải chịu 1.655.5 00 đồng. Bà Nguy n Thị H không phải chịu án ph ; hoàn trả cho à Nguy n Thị H số tiền tạm ứng đã dự nộp là 300.000 đồng theo iên lai thu tiền số 0007913 ngày 11/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu K .

3. Các đương sự có m t tại phiên t a có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự v ng m t thời hạn trên được t nh từ ngày nhận được ản án ho c từ ngày ản án được niêm yết tại nơi cư tr .

Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền th a thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án ho c ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ