- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng K và vợ chồng anh T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K:
- Căn cứ chính? Nghị định số 83/2010/NĐ-CP Về đăng ký giao dịch bảo đảm; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2020/DS - ST Ngày: 17 - 3 - 2020 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Nhòng.
Ông Nguyễn Duy Viên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2019/TLST - DS ngày 05 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXXST-DS ngày 11/02/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐST-DS ngày 28/02/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K; trụ sở: Số 40, 42, 44 Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Mạnh – Phó giám đốc Ngân hàng TMCP K chi nhánh Hải Phòng – Phòng giao dịch Lạch Tray (Theo giấy ủy quyền số 62 ngày 09/5/2019); có mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 19xx và chị Hoàng Thị TH, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; (anh T có mặt, chị TH vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 24/01/2017, vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH ký Hợp đồng tín dụng số 046/17/HĐTD/1401-0294 vay Ngân hàng TMCP K (Ngân hàng) số tiền 250.000.000 đồng. Mục đích vay để sửa chữa nâng cấp nhà ở, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất vay 11,61%/năm. Nếu bên vay vi phạm về thời hạn trả gốc hoặc lãi theo thỏa thuận thì toàn bộ số dư nợ còn lại sẽ chuyển thành nợ quá hạn, ngoài ra bên vay còn phải chịu phạt do chậm trả. Tài sản thế chấp cho khoản vay nói trên là quyền sử dụng đất có địa chỉ tại Thôn Tuần Tiến, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, thửa đất số 1038, tờ bản đồ số 9, diện tích đất: 300m2 và tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BL 187743, số vào sổ CH 02759 ngày 07/01/2013 cho anh Vũ Văn T và chị Hoàng Thị TH.
Ngay sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền trên. Tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng anh T, chị TH mới trả được 45.665.903 đồng nợ gốc và 24.674.823 đồng lãi trong hạn. Từ ngày 26/01/2018 đến nay vợ chồng anh T, chị TH không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng như đã thỏa thuận. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu vợ chồng anh T, chị TH trả nợ, nhưng anh T, chị TH vẫn không thực hiện. Do vậy Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 31/8/2019 là 255.404.268 đồng (Trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng, lãi trong hạn: 40.738.940 đồng, lãi quá hạn: 4.938.109 đồng, phạt chậm trả: 5.933.122 đồng). Trường hợp vợ chồng anh T, chị TH không trả nợ hoặc trả không đủ số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP K thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Bị đơn anh Vũ Văn T trình bày:
Anh T thừa nhận vợ chồng anh có vay của Ngân hàng TMCP K số tiền 250.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 046/17/HĐTD/1401-0294 ngày 24/01/2017 và thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với của vợ chồng anh cho Ngân hàng đúng như người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng trình bày. Vợ chồng anh đã nhận được đủ tiền giải ngân và mới trả được 45.665.903 đồng nợ gốc và 24.674.823 đồng lãi trong hạn. Do công việc làm ăn gặp khó khăn, chị TH vợ anh lại bỏ nhà đi biệt tích từ tháng 4 năm 2019 nên từ ngày 26/01/2018 đến nay vợ chồng anh T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Anh T đồng ý trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nhưng chưa có tiền trả, anh T đề nghị Ngân hàng khoanh nợ và có pH án giãn nợ để anh T có điều kiện làm việc, kiếm tiền để trả cho Ngân hàng. Anh T hứa sẽ cố gắng trả nợ cho Ngân hàng trong thời gian sớm nhất. Trường hợp nếu anh T không thanh toán được số nợ trên cho Ngân hàng, anh T đồng ý để ngân hàng xử lý tài sản thế chấp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh kết quả cho thấy chị Hoàng Thị TH đã đi khỏi địa pH từ khoảng tháng 4 năm 2019. Tòa án đã có Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị TH nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì của chị TH.
Tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 17/3/2020 là: 265.821.898 đồng (Trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng; lãi trong hạn là: 54.391.693 đồng; lãi quá hạn là 7.096.108 đồng). Ngoài ra, Ngân hàng TMCP K còn yêu cầu vợ chồng anh T, chị TH phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất như đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi anh T, chị TH trả hết nợ. Trường hợp vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH không trả nợ hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP K, thì Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu xử lý tài sản thế chấp vẫn chưa đủ trả tổng số tiền nợ thì vợ chồng anh T, chị TH còn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho cho Ngân hàng TMCP K cho đến khi trả hết nợ.
Bị đơn anh Vũ Văn T trình bày: Trước thời điểm chị Hoàng Thị TH (Vợ anh T) bỏ nhà đi khỏi địa pH thì Ngân hàng đã ra thông báo nếu vợ chồng anh không trả nợ phía Ngân hàng sẽ khởi kiện tại Tòa. Anh T đồng ý trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tính đến ngày 17/3/2020 là 265.821.898 đồng (Trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng; lãi trong hạn là: 54.391.693 đồng; lãi quá hạn là 7.096.108 đồng), nếu anh T không trả được thì anh nhất trí để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng theo quy định của pháp luật, từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật. Bị đơn anh Vũ Văn T đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, chị Hoàng Thị TH chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án thu thập đã thể hiện vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH ký hợp đồng tín dụng 046/17/HĐTD/1401-0294 ngày 24/01/2017 vay 250.000.000 đồng của Ngân hàng TMCP K và ký hợp đồng thế chấp số 046 ngày 24/01/2017 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất cho anh T và chị TH để thế chấp cho khoản vay nói trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, vợ chồng anh T, chị TH đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy căn cứ vào các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng; Điều 56, 58 Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 và Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử buộc vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/3/2020 là: 265.821.898 đồng (trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng, lãi trong hạn là: 54.391.693 đồng, lãi quá hạn là: 7.096.108 đồng). Vợ chồng anh T, chị TH còn phải tiếp tục trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp vợ chồng anh T, chị TH không trả được khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP K có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Về án phí: Đề nghị buộc vợ chồng anh Vũ Văn T và chị Hoàng Thị TH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định. Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP K và vợ chồng anh Thủy, chị TH có nơi cư trú tại: Thôn Tuần Tiến, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Về thủ tục tố tụng tại Tòa: Bị đơn chị Hoàng Thị TH vắng mặt tại nơi cư trú, Tòa án đã tiến hành xác minh, thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị TH nhưng đến nay vẫn không có tin tức gì. Xét chị TH đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị TH.
Về nội dung vụ án:
Hợp đồng tín dụng số 046/17/HĐTD/1401-0294 ngày 24/11/2017 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K và vợ chồng anh T, chị TH đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật khi ký kết nên là hợp đồng hợp pháp. Do vậy làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong những hợp đồng này.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng TMCP K đã thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng và đã giải ngân theo đúng cam kết. Nhưng vợ chồng anh T, chị TH đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày xét xử, vợ chồng anh T, chị TH mới trả được 45.665.903 đồng nợ gốc và 24.674.823 đồng lãi trong hạn, sau đó không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, như vậy anh T, chị TH đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng TMCP K.
Về số tiền phải trả:
Theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, vợ chồng anh T, chị TH vay của Ngân hàng TMCP K số tiền 250.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày giải ngân, lãi suất vay 11,61%/năm. Nếu bên vay vi phạm về thời hạn trả gốc hoặc lãi theo thỏa thuận thì toàn bộ số dư nợ còn lại sẽ chuyển thành nợ quá hạn, ngoài ra bên vay còn phải chịu phạt do chậm trả. Vợ chồng anh T, chị TH mới trả được 45.665.903 đồng nợ gốc và 24.674.823 đồng lãi trong hạn. Tính đến ngày 17/3/2020, vợ chồng anh T, chị TH nợ Ngân hàng tổng số tiền là: 265.821.898 đồng (trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng, lãi trong hạn là: 54.391.693 đồng, lãi quá hạn là: 7.096.108 đồng). Ngoài ra, Ngân hàng TMCP K còn yêu cầu vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đối với số tiền gốc chưa trả theo mức lãi suất như đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi anh T, chị TH trả hết nợ. Anh T cũng nhất trí trả cho phía Ngân hàng số tiền này và không có ý kiến gì khác.
Về tài sản thế chấp:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 46/17/HĐTC-BĐS, ngày 24/01/2017 đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng theo Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của anh T, chị TH đảm bảo cho khoản vay 250.000.000đ tại Ngân hàng TMCP K. Đây là thỏa thuận tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết. Do vậy trường hợp anh T, chị TH không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn đúng các quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/3/2020 là: 265.821.898 đồng; (Trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng; lãi trong hạn là: 54.391.693 đồng; lãi quá hạn là: 7.096.108 đồng). Vợ chồng anh Thủy, chị TH còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa trả theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 046/17/HĐTD/1401-0294 ngày 24/11/2017 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp vợ chồng anh T, chị TH không trả nợ hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP K, thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nếu xử lý tài sản thế chấp vẫn chưa đủ trả tổng số tiền nợ thì vợ chồng anh T, chị TH còn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP K cho đến khi trả hết nợ.
Về chi phí tố tụng: Đối với chi phí thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, nguyên đơn không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 278, 280, 299, 300, 320, 323 khoản 1 Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K:
Buộc vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/3/2020) là: 265.821.898 đồng (Hai trăm sáu mươi lăm triệu, tám trăm hai mươi mốt nghìn, tám trăm tám mươi chín đồng); trong đó nợ gốc là: 204.334.097 đồng; lãi trong hạn là: 54.391.693 đồng; lãi quá hạn là 7.096.108 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/3/2020), vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP K cho đến khi thực hiện xong việc thanh toán, theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 046/17/HĐTD/1401-0294 ngày 24/11/2017.
Trong trường hợp vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH không trả nợ hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP K, thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 46/17/HĐTC-BĐS, ngày 24/01/2017. Tài sản thế chấm gồm: Quyền sử dụng đất có địa chỉ tại thôn Tuần Tiến, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, thửa đất số 1038, tờ bản đồ số 9, diện tích đất: 300m2 và tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BL 187743, số vào sổ CH 02759 ngày 07/01/2013 cho anh Vũ Văn T và chị Hoàng Thị TH. Nếu xử lý tài sản thế chấp vẫn chưa đủ trả tổng số tiền nợ thì vợ chồng anh T, chị TH còn có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng TMCP K cho đến khi trả hết nợ.
- Về án phí:
Vợ chồng anh Vũ Văn T, chị Hoàng Thị TH phải chịu 13.291.000 đồng (Mười ba triệu, hai trăm chín mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng TMCP K 6.210.000 đồng (Sáu triệu hai trăm mười nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0011594 ngày 05/9/2019.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP K, bị đơn anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn chị Hoàng Thị TH có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tiên Lãng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng; - Các đương sự; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Chỉnh |