- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Dương Minh T - Công ty VC"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu c u Công ty TNHH V C phải thanh toán 02 tháng tiền lương là 73.
- Căn cứ chính? Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 202 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/LĐ-ST Ngày: 20/5/2019 “V/v: Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và tiền lương” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Tình;
Ông Bồ Quốc Khánh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động sơ thẩm thụ lý số: 01/2019/TLST-LĐ, ngày 03 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và tiền lương” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXX-LĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-LĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Dương Minh T, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Ấp 4, xã An Viễn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Quốc, sinh năm 1979; địa chỉ: phường a, Quận b, Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng ủy quyền ngày 17/01/2019); Có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn VC; địa chỉ: Khu công nghiệp Đ, xã Đ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Y Ch Ch - Chức vụ: Tổng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật của Công ty Trách nhiệm hữu hạn VC; Vắng mặt.
3- Người làm chứng:
3.1. Ông H Ch Y, sinh năm 1965, địa chỉ: Cụm Công nghiệp P, xã C, thị xã T, tỉnh Bình Dương; Có đơn xin vắng mặt.
3.2. Bà Nguyễn Thị Lệ Cơ, Chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH Pt, địa chỉ: khu phố c, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2018, đơn khởi kiện b sung ngày 21/01/2019, bản tự khai, nguyên đơn ông Dương Minh T và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Q thống nhất, trình bày:
Ông Dương Minh T ký kết Hợp đồng lao động số 201700003 ngày 01/10/2017 v i Công ty Trách nhiệm hữu hạn V C. Thời hạn hợp đồng là 12 tháng kể t ngày 01/10/2017 đến ngày 30/9/2018. Chức danh chuyên môn: K thuật viên, cụ thể c ng việc ông Dương Minh T là nhân viên k thuật sơn, quản lý t 3 đến 10 c ng nhân sản xuất, chế biến sơn tại nhà xưởng của c ng ty hoặc khi có yêu c u của khách hàng. Ông T có kinh nghiệm hơn 14 năm làm k thuật viên sơn tại các c ng ty sản xuất và chế biến sơn như C ng ty TNHH V VN tại CN A Biên Hòa, Đồng Nai; Công ty TNHH S, KCN T, Biên Hòa, Đồng Nai... và khi vào làm việc tại Công ty TNHH V C, có gửi k m bản gốc Phụ lục Hợp đồng lao động ngày 01/01/2013, 01/01/2015 v i C ng ty TNHH S và Sổ bảo hiểm xã hội số 4704055834 mở ngày 26/01/2005 v i C ng ty TNHH V VN .Về tiền lương thực lãnh hàng tháng của ng T là 40.000.000 đồng/01 tháng, bao gồm:
Lương cơ bản: 4.258.600 đồng; Phụ cấp chức vụ: 300.000 đồng; Phụ cấp trách nhiệm: 200.000 đồng; Phụ cấp độc hại: 175.000 đồng; Phụ cấp nhà ở: 1.000.000 đồng; H trợ ph xăng: 1.500.000 đồng; H trợ ph điện thoại: 650.000 đồng; Trợ cấp khác: 5.000.000 đồng; H trợ tiền ăn: 390.000 đồng; Thưởng hiệu suất: 14.226.400 đồng; Tiền thưởng k thuật: 12.000.000 đồng; Tiền thưởng chuyên c n: 300.000 đồng; Tổng lương: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng . Tr đi các khoản tr ch nộp: Ph c ng đoàn: 42.500 đồng; BHYT, TN, YT: 499.653 đồng; Thuế TNCN: 2.897.069 đồng; Còn lại tiền lương thực nhận của nguyên đơn là 36.560.778 đồng; Về chi ph gồm có phụ cấp xăng xe hàng tháng: Tại khoản 1 Điều 3 Hợp đồng lao động số 201700003 ngày 01/10/2017 có ghi: Người lao động có quyền lợi được hưởng phụ cấp và thưởng theo ch nh sách, đánh giá hàng tháng của công ty.
Tại khoản 2 Điều 4 Hợp đồng lao động quy định: Công ty thanh toán đ y đủ, đúng thời hạn các chế độ và quyền lợi của người lao động theo hợp đồng lao động. Về tiền phụ cấp xăng xe thì c ng ty s thanh toán chi ph cho ng T sau khi hoàn tất bảng quyết toán chi ph k m tài liệu hóa đơn, chứng t gửi về cho bộ phận hành ch nh, kế toán (Gửi cho nhân viên Nguyễn V thu nhận hóa đơn cư c ph , c u đường vào ngày 30 (tây) hàng tháng.
Tháng 09/2018 và tháng 10/2018 ng T đã gửi bảng quyết toán chi ph k m tài liệu hóa đơn, chứng t cho nhân viên Nguyễn V nhưng c ng ty chưa thanh toán cho ng Tuấn gồm có:
Tiền xăng: 7.657.000 đồng; Cư c ph c u đường: 1.180.000 đồng, cộng số tiền phụ cấp xăng xe tháng 9/2018 : 8.837.000 đồng. Tháng 10/2018, theo số ngày thực tế 10 ngày làm việc có sử dụng xe c ng ty gồm tiền xăng: 2.600.000 đồng, cư c ph c u đường: 300.000 đồng.Tổng cộng số tiền phụ cấp xăng xe tháng 10/2018: 2.900.000 đồng. Công ty TNHH V C đơn phương ban hành văn bản kh ng thanh toán các khoản nêu trên, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và th ng báo khấu tr toàn bộ lương còn lại của ng Tuấn gửi cho tất cả các khách hàng và nội bộ công ty.
Ngày 11/10/2018, Công ty thông báo chấm dứt hợp đồng lao động và phát đi th ng báo gửi đến các đối tác, khách hàng. Mặc d , ngày 12/10/2018 ng T v n đi làm việc Đòi nợ khách hàng do Công ty phân công), nguyên đơn biết được các văn bản này t nhân viên Nguyễn V.
Công ty th ng báo khấu tr toàn bộ lương của ông T trong vòng 01 tháng vào lúc 8 giờ 27 phút ngày 22/10/2018, th ng báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Kh ng còn là nhân viên c ng ty nhưng có trách nhiệm giải quyết c ng nợ vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2018.
Th ng báo yêu c u thanh toán c ng nợ ngày 06/10/2018 của Công ty TNHH V C gửi và Công ty TNHH P phản hồi vào lúc 08 giờ ngày 11/10/2018. C ng ty ch nh thức ban hành Quyết định nghỉ việc ngày 15/10/2018 c ng việc chốt sổ bảo hiểm xã hội ngày 20/10/2018 của ông Tuấn, chấm dứt hợp đồng lao động v i ông T. Như vậy Công ty TNHH V C đã vi phạm thời gian báo trư c là 41 ngày.
Ngày 12/12/2018, ông T nộp đơn khởi kiện Công ty Trách nhiệm hữu hạn V C. Trong đơn khởi kiện k m theo các tài liệu chứng cứ, ng T cho rằng Công ty Trách nhiệm hữu hạn V C đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Ông Dương Minh T yêu c u Tòa án giải quyết buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vu C thanh toán như sau:
- Tiền lương của tháng 9 năm 2018 là 40.000.000 đồng
- 10 ngày tiền lương của tháng 10 năm 2018 là 13.300.000 đồng
- Tiền phụ cấp xăng xe tháng 9 năm 2018 là 8.700.000 đồng
- Tiền phụ cấp xăng xe tháng 10 năm 2018 là 2.900.000 đồng
Tổng cộng là 64.900.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu ch n trăm ngàn đồng .
Sau đó, ng Tuấn có đơn xin sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về việc c ng ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động gửi đến Tòa án yêu c u giải quyết:
1- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V C phải thanh toán tiền lương tháng 9 năm 2018 và tiền lương 14 ngày thực tế là 12 làm việc của tháng 10 năm 2018:
Trong đó, lương hàng tháng là 40.000.000 đồng, tr đi các khoản tr ch lập: Ph c ng đoàn: 42.500 đồng; BHYT, TN, YT: 499.653 đồng; Thuế TNCN: 2.897.069 đồng; Còn lại lương thực nhận tháng 9 năm 2018 là 40.000.000 – 42.500 499.653 2.897.069 36.560.778 đồng; Tổng cộng: 36.560.778 + (36.560.778 x 12)/26 ngày = 36.560.778 đồng + 16.874.205 đồng 53.434.983 đồng
2- Do c ng ty chậm thanh toán tiền lương tháng 9 (quá 15 ngày) nên phải trả thêm tiền chậm trả bằng lãi suất huy động 01 tháng tương ứng số ngày chậm trả. Ngân hàng Nhà nư c qui định mức lãi suất huy động tiền gửi loại 01 tháng là 5,5 /năm. T 25/10/2018 đến 12/12/2018 là 01 tháng 18 ngày, số tiền chậm trả lương: 36.560.778 x 5,5 /12 x 1 tháng 188.570 đồng.
3- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn V C thanh toán tiền phụ cấp xăng xe cho ông T tháng 9 năm 2018 là 8.837.000 đồng và 10 ngày của tháng 10 năm 2018 là 2.900.000 đồng (Do ngày 11 tháng 10 năm 2018 C ng ty th ng báo cho ông T yêu c u bàn giao trả xe và kh ng còn là nhân viên của c ng ty , tổng cộng 11.737.000 đồng.
4- Buộc C ng ty Vũ C bồi thường 2 tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng lao động kh ng đúng pháp luật: 36.560.778 đồng x 2 tháng 73.121.534 đồng.
5- Hủy quyết định nghỉ việc ngày 15/10/2018 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Vũ Chấn về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối v i ông Dương Minh T trái pháp luật.
6- Bồi thường 2 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động là 73.121.556 đồng.
7- Công ty vi phạm thời hạn báo trư c là 41 ngày nên phải bồi thường tương ứng 41 ngày lương là 57.653.534 đồng.
Tổng cộng tất cả các khoản là 339.345.387 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp cho ông T xin rút lại một ph n yêu c u khởi kiện về yêu c u Công ty TNHH V C nhận lại làm việc (Ông T không muốn tiếp tục vào làm việc lại cho công ty), rút một ph n yêu c u về việc buộc công ty TNHH V C bồi thường 02 tháng tiền lương là 73.121.556 đồng.
Tại bản tự khai và biên bản hòa giải ngày 11/01/2019, bị đơn Công ty Trách nhiệm h u hạn V C do ông Ông Y Ch Ch - Chức vụ: T ng Giám đốc, là người đại diện theo pháp luật; Vắng mặt có lời trình bày:
Thống nhất v i lời khai của nguyên đơn về giao kết hợp đồng lao động v i thời hạn 01 năm t ngày 01/10/2017 đến ngày 30/9/2018 v i mức lương thực lãnh là 40.000.000 đồng/tháng và công việc được phân công theo hợp đồng lao động đối v i ng Dương Minh T. Tuy nhiên, bị đơn kh ng chấp nhận các yêu c u của nguyên đơn về bồi thường do chấm dứt hợp đồng lao động trái luật và kh ng chấp nhận hủy quyết định cho thôi việc đối v i ông T, không chấp nhận việc ông T trở lại làm việc v i lý do: Ông T đã kh ng hoàn thành c ng việc của mình mặc dù công ty giao xe ôtô cho ông T đi đòi nợ khách hàng nhưng kh ng hoàn thành nhiệm vụ; có một số khách hàng đã trả nợ cho ông Tuấn như C ng ty P nhưng ng kh ng trả lại cho công ty, thông qua việc xác minh của công ty tháng 9/2018, được biết ông T thành lập công ty riêng của mình, mang nguồn khách hàng của công ty sang cho công ty riêng của ông T, đã vi phạm nội quy công ty, kéo khách hàng về phía công ty riêng của ông T nên Công ty quyết định cho ông T thôi việc là đúng. Do đó, bị đơn kh ng đồng ý toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản tự khai ngày 02/5/2019, người làm chứng ông S C Y Có đơn xin giải quyết vắng mặt) trình bày: Ông S C Y là cựu nhân viên của Công ty TNHH V C có thời gian làm việc cho công ty này t ngày 15/8/2017 đến ngày 22/10/2018, ngày 12/10/2018 ông T và ông Y c ng đi đòi nợ khách hàng là bà Nguyễn Thị L, giám đốc Công ty P, bà L cho rằng Công ty V C thông báo cho bà biết ông T và ông Y không còn là nhân viên của công ty nữa nên bà C không làm việc v i ông T.
Tại bản tự khai ngày 29/4/2019, người làm chứng bà Nguyễn Thị L Có đơn xin vắng mặt) trình bày: Công ty P của bà nhận bán sản phẩm sơn Licai cho C ng ty TNHH V C. Ngày 11/10/2018, bà nhận được thông báo của Công ty TNHH V C về việc ông T không còn là nhân viên của Công ty TNHH V C nên ngày 12/10/2018, ông T có đến đòi c ng nợ nên bà có thông báo cho Công ty V C biết và bà C không làm việc v i ông T nữa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền; Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối v i bị đơn Công ty TNHH V C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều l n mà v n vắng mặt nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn: Xác định hợp đồng lao động giữa ng Dương Minh T và Công ty V C là hợp đồng lao động kh ng xác định thời hạn; do bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật buộc C ng Ty TNHH V C thanh toán cho nguyên đơn gồm: 02 tháng tiền lương Theo HĐLĐ là 9.025.000 đồng; 12 ngày lương của tháng 10/2018 là 16.874.205 đồng; tiền phụ cấp xăng xe tháng 9/2018 là 8.700.000 đồng; phụ cấp xăng xe 12 ngày của tháng 10/2018 là 2.900.000 đồng; tiền lương thực nhận của tháng 9/2018 là 36.560.778 đồng; lãi do chậm trả lương là 188.570 đồng; phụ cấp thôi việc bằng ½ tháng lương theo hợp đồng lao động là 2.250.000 đồng; bối thường khoản tiền vi phạm thời gian báo trư c là 41 ngày x 36.560.778 đồng: 30 ngày) là 49.966.396 đồng. Tổng cộng buộc bị đơn phải bồi thường cho nguyên đơn là 126.464.949 đồng.
Do nguyên đơn tự nguyện rút lại yêu c u bị đơn buộc bị đơn C ng ty TNHH V C nhận lại làm việc và thanh toán 02 tháng tiền lương là 73.121.556 đồng nên đề nghị HĐXX đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
au hi nghiên cứu c c t i liệu chứng cứ c trong hồ sơ v n đ được thẩ tra tại phiên t a c n cứ v o t qu tranh lu n tại phiên t a i n phát biểu của đại diện Viện kiể s t Hội đồng t nh n định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Đây là vụ án tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và tiền lương, do bị đơn có trụ sở tại khu Công nghiệp Đ, xã Đ, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, căn cứ khoản 1 Điều 32, Điều 36, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ Điều 202 Bộ luật lao động, ông T nộp đơn khởi kiện ngày 12/12/2018 nên thời hiệu khởi kiện v n còn.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến l n thứ hai mà bị đơn Công ty TNHH V C v n vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn Ông Dương Minh T ký kết Hợp đồng lao động số 201700003 ngày 01/10/2017 v i Công ty Trách nhiệm hữu hạn V C. Thời hạn hợp đồng làm việc là 12 tháng kể t ngày 01/10/2017 đến ngày 30/9/2018. Chức danh chuyên m n: k thuật viên, c ng việc ông Dương Minh T là nhân viên k thuật sơn, quản lý t 3 đến 10 c ng nhân sản xuất, chế biến sơn tại nhà xưởng của c ng ty hoặc khi có yêu c u của khách hàng thì ông T s trực đi xuống nơi khách hàng có yêu c u sơn. Mức lương theo hợp đồng lao động là 4.512.500 đồng nhưng thực lãnh hàng tháng còn có các khoản như chức vụ: 300.000 đồng; phụ cấp trách nhiệm là 200.000 đồng; phụ cấp độc hại là 175.000 đồng; phụ cấp nhà ở: 1.000.000 đồng; h trợ xăng 1.500.000 đồng; điện thoại 650.000 đồng; trợ cấp khác 5.000.000 đồng; h trợ tiền ăn 390.000 đồng; thưởng hiệu suất 14.226.400 đồng; thưởng k thuật 12.000.000 đồng; thưởng chuyên c n 300.000 đồng; tổng cộng là 40.000.000 đồng; tr các khoản phải nộp là ph c ng đoàn 42.500 đồng; BHYT, TN 499.653 đồng; thuế thu nhập cá nhân 2.897.069 đồng, còn lại thực lãnh là 36.560.778 đồng. Ngoài ra, ông Tuấn còn được Công ty giao 01 xe ô tô con cử đi đòi nợ khách hàng trong và ngoài tỉnh h trợ giúp công ty.
Ngày 15/10/2018, Công ty trách nhiệm hữu hạn V C ra thông báo (Không có số chấm dứt hợp đồng lao động đối v i ông Dương Minh T v i lý do ông T không hoàn thành nhiệm vụ đi đòi nợ khách hàng như C ng ty TNHH P và một số khách hàng mà Công ty giao và ông Tuấn không trả cho công ty số tiền công nợ mà khách hàng đã trả cho ông T.
Nguyên đơn cho rằng bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên yêu c u bồi thường tổng cộng tiền lương và tất cả các khoản là 339.345.387 đồng, đồng thời hủy quyết định cho thôi việc trái pháp luật. Nguyên đơn không yêu c u nhận lại làm việc và không yêu c u về tiền đóng BHXH, Bảo hiểm y tế cũng như Bảo hiểm thất nghiệp.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn tự nguyện rút lại một ph n yêu c u khởi kiện đối v i ph n yêu c u công ty V C nhận lại làm việc và bồi thường 02 tháng tiền lương là 73.121.556 đồng, các khoản còn lại yêu c u công ty V C phải bồi thường là 266.423.831 đồng, yêu c u HĐXX đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn ng Dương Minh T và bị đơn Công ty TNHH V C ký kết hợp đồng lao động v i thời hạn 01 năm t ngày 01/10/2017 đến ngày 30/9/2018, có quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên, công việc phải làm, mức lương theo đúng quy định tại Điều 25 của Bộ luật lao động.
Tuy nhiên, cho đến hết ngày 30/9/2018 ông T v n còn làm việc cho Công ty mà không giao kết hợp đồng lao động m i, như vậy đương nhiên ng T và C ng ty đã xác lập quan hệ lao động không thời hạn theo khoản 2 Điều 22 Bộ luật lao động.
Ngày 15/10/2018, Công ty TNHH V C ban hành quyết định cho ông T nghỉ việc v i lý do không hoàn thành nhiệm vụ, ng T kh ng đồng ý v i quyết định của Công ty.
Xét tính pháp lý của việc xử lý kỷ luật hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của c ng ty đối v i ông T: Khi công ty xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối v i ông T là kh ng đúng quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động, lý do công ty cho rằng ông T không hoàn thành nhiệm vụ nhưng kh ng đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh, Tòa án cũng ban hành Quyết định yêu c u cung cấp chứng cứ số 01/2019/QĐCCCC, ngày 10/01/2019 tống đạt yêu c u bị đơn giao nộp, cung cấp chứng cứ nhưng bị đơn kh ng cung cấp được chứng cứ nhằm chứng minh được l i của người lao động.
Khi xử lý kỷ luật lao động đối v i ông T, Công ty không thông báo cho người lao động trư c 45 ngày, không lập biên bản vi phạm đối v i người lao động, không thành lập Hội đồng xử lý kỷ luật, không có sự trao đổi và nhất trí v i Ban chấp hành c ng đoàn cơ sở, công ty không lập biên bản xử lý kỷ luật lao động, không gửi quyết định xử lý kỷ luật lao động cho Sở lao động –Thương binh – Xã hội tỉnh Bình Dương k m theo biên bản xử lý kỷ luật lao động) là vi phạm các Điều 36, 37, 38 Bộ luật lao động và Điều 30 Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 sửa đổi bổ sung Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Tại phiên tòa, mặc d đã được triệu tập hợp lệ đến l n thứ hai mà người đại diện theo pháp luật của bị đơn cũng cố tình vắng mặt. Như vậy, đủ căn cứ xác định bị đơn t bỏ quyền chứng minh của mình đối v i các yêu c u khởi kiện ông T.
Theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động năm 2012 thì bị đơn có trách nhiệm nhận ông T trở lại làm việc và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày ông T kh ng được làm việc và ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động nhưng ng Tuấn không yêu c u Công ty TNHH V C nhận trở lại làm việc, không yêu c u thanh toán BHXH, BH thất nghiệp nên HĐXX kh ng xem xét, giải quyết.
Xét các yêu c u của nguyên đơn:
Về việc yêu c u thanh toán tiền phụ cấp xăng xe trong tháng 9/2018 là 8.700.000 đồng; tiền phụ cấp xăng xe 12 ngày làm việc của tháng 10/2018 là 2.900.000 đồng; 12 ngày lương của tháng 10/2018 là 16.874.205 đồng; thanh toán tiền lương thực lãnh của tháng 9/2018 là 36.560.778 đồng; tiền lãi do chậm trả lương là 188.570 đồng là phù hợp vì trong thời gian này, ông Tuấn còn làm việc cho công ty TNHH V C nên buộc công ty TNHH V C phải thanh toán cho ông T; buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn phụ cấp thôi việc cho một năm làm việc bằng ½ tháng lương theo hợp đồng lao động là 2.250.000 đồng.
Do bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nên theo Điều 38 Bộ luật lao động phải bồi thường 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động là 4.512.500 đồng x 2 là 9.025.000 đồng là phù hợp v i Điều 26a, Điều 30 của Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ, ông T yêu c u thanh toán bằng 02 tháng lương thực lãnh của ông Tuấn v i số tiền 36.560.778 đồng x 2 tháng 73.121.534 đồng là không phù hợp.
Do bị đơn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động kh ng xác định thời hạn đối v i ông T vi phạm thời hạn báo trư c là 41 ngày nên buộc công ty TNHH V C phải thanh toán khoản tiền lương thực lãnh tương ứng v i thời hạn 41 ngày x (36.560.778 đồng: 30 ngày) là 49.966.396 đồng.
Đối v i Quyết định cho thôi việc (Không số) ngày 15/10/2018 của Công ty TNHH V C đối v i ng Dương Minh T là trái pháp luật nên c n phải tuyên hủy quyết định này. Ông T không yêu c u công ty nhận lại làm việc, không yêu c u thanh toán tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiểm y tế nên HĐXX ghi nhận.
Do nguyên đơn tự nguyện rút một ph n yêu c u công ty TNHH V C phải nhận lại làm việc và bồi thường số tiền bằng 02 tháng tiền lương là 73.121.534 đồng nên HĐXX đình chỉ giải quyết yêu c u này.
Yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ph hợp v i quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động và Điều 26a, Điều 30 của Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 sửa đổi bổ sung Nghị định 05/2015/NĐ-CP nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một ph n.
Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát huyện Bắc Tân Uyên đề nghị là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.
- Về án ph lao động sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 32, Điều 36, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 22, Điều 37, Điều 38, Điều 41, Điều 42, Điều 202 của Bộ luật lao động;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Đình chỉ một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu c u Công ty TNHH V C phải thanh toán 02 tháng tiền lương là 73.121.556 đồng.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Dương Minh T kh ng yêu c u Công ty TNHH Vũ Chấn phải nhận lại làm việc, không yêu c u thanh toán tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp, Bảo hiềm y tế.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông Dương Minh Tuấn về việc đòi bị đơn Công ty TNHH V C phải thanh toán các khoản như sau:
- Tiền lương thực lãnh của tháng 9/2018 là 36.560.778 đồng.
- 12 ngày tiền lương của tháng 10 năm 2018 là 16.874.205 đồng.
- 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động là 9.025.000 đồng.
- Tiền phụ cấp xăng xe tháng 9 năm 2018 là 8.700.000 đồng
- Tiền phụ cấp xăng xe tháng 10 năm 2018 là 2.900.000 đồng
- Tiền phụ cấp thôi việc là 2.250.000 đồng.
- Tiền lãi do chậm trả lương tháng 9/2018 là 188.570 đồng.
- Buộc công ty TNHH V C phải thanh toán khoản tiền lương thực lãnh tương ứng v i thời hạn 41 ngày x 36.560.778 đồng: 30 ngày là 49.966.396 đồng.
2. Buộc Công ty TNHH V C phải bồi thường cho ng Dương Minh T tổng số tiền là 126.464.949 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu, bốn trăm sáu mươi bốn ngàn, ch n trăm bốn mươi ch n ngàn đồng).
3. Không chấp nhận yêu c u khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu c u Công ty TNHH V C phải bồi thường v i số tiền 139.958.882 đồng.
Kể t ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đối v i các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể t ngày có đơn yêu c u thi hành án của người được thi hành án đối v i các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí lao động sơ thẩm: Ông Dương Minh T không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
Bị đơn C ng ty TNHH V C phải chịu 6.323.247 đồng tiền án ph lao động sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bắc Tân Uyên; - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Mạnh Hùng |