vanban.org

Bản án 01/2019/LĐ-ST — Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận 01 (một) phần yêu cầu của anh Mai Hoàn V.

Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K phải trả anh Mai Hoàn V tiền lương tháng 05/2018 số tiền 5.142.000 đồng, tiền lương nghỉ phép 02 ngày số tiền 538.000 đồng và tiền BHXH – BHYT - BHTN thời gian 02 tháng số tiền 3.010.000 đồng. Tổng cộng: 8.690.000 đồng (tám triệu sáu trăm chín mươi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "V- CÔNG TY K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận 01 (một) phần yêu cầu của anh Mai Hoàn V.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/LĐ-ST
Ngày: 21 - 10 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng lao động
về đòi tiền công và bồi thường
thiệt hại do chấm dứt hợp đồng
lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Văn Hiến

2. Bà Nguyễn Thị Thúy An

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: 1. Ông Trần Thanh Sang - Kiểm sát viên.

2. Ông Huỳnh Văn Sáng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27/9/2019 và ngày 21/10/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2019/TLST-LĐ ngày 22 tháng 4 năm 2019. Về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động về đòi tiền công và bồi thường thiệt hại do chấm dứt hợp đồng lao động”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 106/2019/QĐST-LĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Mai Hoàn V, sinh năm: 1987

Địa chỉ: 253, Nguyễn Tiểu L, Phường J, Quận I, thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV SX-TM-DV K - Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Khánh Huy, sinh năm:1983

Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

(Anh Mai Hoàn V có mặt xét xử ngày 27/9/2019 và có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 21/10/2019; Anh Ngô Khánh H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện anh Mai Hoàn V, trình bày:

Ngày 09/5/2018 anh V được giám đốc công ty TNHH SX – TM – DV K nhận làm việc từ ngày theo thư mời nhận việc giám sát bán hàng địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thử việc 02 tháng, lương khoán là 7.000.000đ + thưởng 500.000đ đến 2.500.000đ (nếu có), ngoài ra không còn chính sách khác trong thời gian thử việc.

Làm việc hết hai tháng thử việc và làm đến 15/8/2018 thì nghỉ việc.

Ngày 10/6/2018 anh V được công ty trả tiền lương tháng 5/2018 (từ ngày 09/5/2018 đến 9/6/2018) số tiền là 808.000đ và tháng 6/2018 (từ 9/6/2018 đến 9/7/2018) số tiền 9.100.000đ.

Đến 9/8/2018 thì anh V không nhận được tiền lương của tháng 7/2018.

Công ty đã làm trái quy định bộ luật lao động, làm ảnh hưởng đến thu nhập, cuộc sống tinh thần, kinh tế gia đình tôi.

Nay yêu cầu buộc Công ty TNHH – TM – DV K phải trả cho tôi:

1/ Tiền lương phép năm kể từ ngày 09/5/2018 khi làm việc đến ngày 09/7/2018 mà chưa được nghỉ là 02 ngày với số tiền là: Lương/26 x 2 = 7.000.000đ/26 x 2 = 538.000đ.

2/ Tiền lương công ty trả thiếu lương tháng 5/2018: 7.000.000đ - 808.000đ = 6.192.000đ.

3/ Tiền lương chưa trả từ ngày 09/7/2018 đến ngày 09/8/2018 là 7.000.000đ.

4/ Chi trả tiền BHXH, BHYT, BHTN trong thời gian thử việc là 7.000.000đ x 21.5% x 2 = 3.010.000đ.

5/ Buộc lập hồ sơ truy đóng BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 07/2018 đến khi có Quyết định xét xử của Tòa án với mức tiền lương 7.000.000đ theo quy định.

6/ Chi trả tiền bồi thường do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật từ ngày 09/8/2018 đến ngày 09/3/2019 tạm tính 7 tháng x 7.000.000đ = 49.000.000đ.

7/ Chi trả tiền BHXH, BHYT, BHTN do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tạm tính 07 tháng kể từ ngày 10/8/2018 là 7.000.000đ x 21,5% x 07 tháng = 10.535.000đ.

Tổng cộng: 74.770.000đ.

Ngày 14/6/2019 anh Mai Hoàn V chỉ yêu cầu giải quyết đối với Cty TNHH – TM – DV K như sau:

- Tiền lương phép năm kể từ ngày 09/5/2018 khi làm việc đến ngày 09/7/2018 mà chưa được nghỉ là 02 ngày với số tiền là: Lương/26 x 2 = 7.000.000đ/26 x 2 = 538.000đ.

- Tiền lương công ty trả thiếu lương tháng 5/2018: 7.000.000đ - 808.000 = 6.192.000đ.

- Tiền lương chưa trả từ ngày 09/7/2018 đến ngày 09/8/2018 là 7.000.000đ.

- Chi trả tiền BHXH, BHYT, BHTN trong 03 tháng: 7.000.000đ x 21.5% x 3 = 4.515.000đ.

- Chi trả tiền bồi thường do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật từ ngày 09/8/2018 đến ngày 09/3/2019 là 07 tháng x 7.000.000đ = 49.000.000đ.

Tổng cộng 67.425.000đ.

- Anh Ngô Khánh H đại diện công ty TNHH MTV SX –TM- DV K ý kiến:

Công ty có thư mời anh V làm việc từ ngày 09/5/2018 đến ngày 09/7/2018, thời gian thử việc là 2 tháng, lương khoán là 7.000.000đ/tháng. Trong thời gian thử việc anh V làm việc không hiệu quả, nên sau khi hết 02 tháng thử việc, Công ty không tuyển anh V làm nhân viên chính thức.

Công ty đã trả lương đầy đủ 02 tháng cho anh V.

Nay không đồng ý theo những yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án và đề nghị đường lối xét xử như sau:

- Chấp nhận 01 (một) phần yêu cầu của anh Mai Hoàn V.

- Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K phải trả anh Mai Hoàn V tiền lương tháng 5, tiền lương nghỉ phép 02 ngày và tiền BHXH – BHYT - BHTN 02 tháng. Tổng cộng: 8.690.000đồng (tám triệu sáu trăm chín mươi nghìn).

- Không chấp nhận yêu cầu của anh Mai Hoàn V yêu cầu Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K trả tiền lương tháng 7, trả tiền BHXH – BHYT - BHTN thời gian 01 tháng, bồi thường do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật 07 tháng. Tổng cộng: 57.505.000đồng (năm mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn).

- Đình chỉ 01 (một) phần yêu cầu khởi kiện của anh Mai Hoàn V do rút đơn khởi kiện.

Hội đồng xét xử nhận định:

Vào ngày 09/5/2018 Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K có thư mời nhận việc và anh Mai Hoàn V đồng ý thử việc thời gian 02 tháng, vị trí công việc tuyển dụng giám sát bán hàng và được hưởng các chế độ quy định khác theo thư mời nhận việc. Anh Mai Hoàn V đã nhận việc từ ngày 09/5/2019 và đã hoàn thành thời gian thử việc 02 tháng vào ngày 09/7/2018. Nhưng Cty K chỉ trả tiền lương cho anh V tháng 5/2019 số tiền 808.000 đồng là chưa phù hợp với Điều 28 của Luật lao động.

Điều 28 của Luật lao động quy định.

“Mức lương trong thời gian thử việc do 02 bên tự thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó”.

Nên anh Mai Hoàn V yêu cầu Cty K phải trả tiền lương tháng 05/2018 với số tiền 7.000.000đồng/tháng - 808.000đồng đã nhận = 6.192.000đồng là chưa phù hợp; chỉ chấp nhận Cty K trả tiền lương cho anh V tháng 5/2019 như sau: Lương 7.000.000đồng/tháng x 85% = 5.950.000đồng - 808.000đồng đã nhận = 5.142.000đồng và trả tiền lương nghỉ phép 02 tháng thử việc thời gian 02 ngày với số tiền là 7.000.000đ/26ngày x 2 ngày = 538.000đồng; trả tiền BHXH - BHYT - BHTN là 02 tháng x 7.000.000đ/tháng x 21.5%/tháng = 3.010.000đồng. Tổng cộng: 8.690.000đồng là có căn cứ chấp nhận.

Xét yêu cầu của anh Mai Hoàn V cho rằng hết thời gian thử việc anh vẫn tiếp tục làm việc và giữa anh V với Cty K không có thỏa thuận nào khác, xem như đã xác lập quan hệ hợp đồng lao động và anh V làm việc từ ngày 09/7/2018 đến ngày 15/8/2018.

Tuy nhiên tại phiên tòa anh Mai Hoàn V trình bày từ ngày 09/7/2018 đến ngày 24/7/2018 anh V không có làm nhiệm vụ giám sát do không có nhân viên bán hàng và chỉ có làm việc từ ngày 25/7 đến ngày 30/7 anh tự thuê quầy ở hội chợ và thuê 02 nhân viên (01 nam, 01 nữ nhưng không nhớ họ tên) bán hàng theo mùa vụ để quảng cáo sản phẩm cho Cty K, nhưng không có báo cáo cho Cty K biết và Cty K cũng không biết việc này.

Mặt khác tại biên bản hòa giải ngày 14/6/2019 anh Ngô Khánh Hđại diện Cty K trình bày “hết hai tháng thử việc thì Cty không tuyển anh V làm nhân viên chính thức do làm việc không hiệu quả”. Hơn nữa anh Mai Hoàn V chưa có chứng cứ, chứng minh có làm việc cho Cty K từ ngày 09/7/2018 đến ngày 15/8/2018 với vị trí công việc giám sát bán hàng, nên chưa đủ căn cứ để 02 bên xác lập quan hệ hợp đồng lao động, do đó anh Mai Hoàn V yêu cầu Cty K trả tiền lương tháng 7/2018 số tiền 7.000.000đồng, trả tiền BHXH - BHYT - BHTN thời gian 01 tháng x 7.000.000đ/tháng x 21.5% = 1.505.000đ, bồi thường do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật, tạm tính 07 tháng x 7.000.000đ/tháng = 49.000.000đồng. Tổng cộng: 57.505.000đồng là không phù hợp, không được chấp nhận.

Tại phiên tòa anh Mai Hoàn V rút 01 (một) phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu giải quyết buộc Cty K lập hồ sơ truy đóng BHXH – BHYT - BHTN từ tháng 07/2018 đến khi có Quyết định xét xử của Tòa án và chi trả tiền BHXH – BHYT - BHTN do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tạm tính 07 tháng kể từ ngày 10/8/2018 số tiền 10.535.000đồng. Áp dụng khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ xét xử.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Công ty K phải nộp 300.000 đồng tiền án phí lao động sơ thẩm.

- Anh Mai Hoàn V thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 26, Điều 27, Điều 28 và Điều 29 của Luật lao động; Điều 147 , khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự;

Tuyên xử:

- Chấp nhận 01 (một) phần yêu cầu của anh Mai Hoàn V.

- Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K phải trả anh Mai Hoàn V tiền lương tháng 05/2018 số tiền 5.142.000 đồng, tiền lương nghỉ phép 02 ngày số tiền 538.000 đồng và tiền BHXH – BHYT - BHTN thời gian 02 tháng số tiền 3.010.000 đồng. Tổng cộng: 8.690.000 đồng (tám triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày anh Mai Hoàn V có đơn yêu cầu thi hành án mà Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K chưa thi hành xong số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.

- Không chấp nhận yêu cầu của anh Mai Hoàn V yêu cầu Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ k trả tiền lương tháng 7/2018 số tiền 7.000.000 đồng, trả tiền BHXH - BHYT - BHTN thời gian 01 tháng số tiền 1.505.000 đồng, bồi thường do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái quy định pháp luật 07 tháng số tiền 49.000.000 đồng. Tổng cộng: 57.505.000 đồng (năm mươi bảy triệu năm trăm lẻ năm nghìn đồng).

- Đình chỉ xét xử yêu cầu của anh Mai Hoàn V không yêu cầu giải quyết buộc Cty K lập hồ sơ truy đóng BHXH – BHYT - BHTN từ tháng 07/2018 đến khi có Quyết định xét xử của Tòa án và chi trả tiền BHXH – BHYT - BHTN do vi phạm chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tạm tính 07 tháng kể từ ngày 10/8/2018 số tiền 10.535.000đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Công ty TNHH MTV Sản xuất - Thương mại - Dịch vụ K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm.

+ Anh Mai Hoàn V được miễn nộp tiền án phi dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ