vanban.org

Bản án 01/2019/LĐ-ST — Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng V.

Buộc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Hồng V 27.202.500 đồng (hai mươi bảy triệu, hai trăm lẻ hai ngàn, năm trăm đồng) tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Trần Thị Hồng V yêu cầu Công ty Cổ phần tổng hợp VP trả tiền trợ cấp thôi việc."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng V.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/LĐ-ST
Ngày: 28-8-2019
V/v: “Tranh chấp về trợ cấp thôi việc
khi chấm dứt hợp đồng lao động.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,

TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trà Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Anh Thư

2. Ông Hoàng Minh Tân, nguyên là Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố Quảng Ngãi.

- Th ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2019/TLST-LĐ ngày 08 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp về trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2019/QĐXXST-LĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hồng V, sinh năm 1965, địa chỉ: Tổ 18, phường TP, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đinh Thị Thanh T, sinh năm 1967, địa chỉ: Tổ 16, phường CL, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi (theo văn bản ủy quyền ngày 19/9/2018), có mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần Tổng hợp VP.

Địa chỉ: Lô 23, Khu công nghiệp QP, phường QP, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện pháp luật: Ông Lê Thanh B - chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20-12-2018, bản tự khai ngày 07-3-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Hồng V và người đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Thanh T trình bày:

Bà đã được Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Ngãi chốt sổ tháng 9-2018, bà chấm dứt hợp đồng năm 2018, Quyết định số 66/QĐ-VP ngày 25-5-2018 về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Trần Thị Hồng V. Trong quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đại diện theo pháp luật là ông Lê Thanh B-Chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần Tổng hợp VP chi trả trợ cấp thôi việc với số tiền là 27.202.500 đồng. Bà đã nhiều lần yêu cầu Công ty Cổ phần Tổng hợp VP trả số tiền trên cho bà nhưng đến nay Công ty Cổ phần Tổng hợp VP vẫn chưa thực hiện.

Do đó, bà yêu cầu Tòa án buộc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP trả cho bà số tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động là 27.202.500 đồng. Bà không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn Công ty Cổ phần Tổng hợp VP không có văn bản trình bày ý kiến.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người đại diện theo ủy quyền thực hiện đúng quy định tại Điều 85, 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Hồng V, buộc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải trả cho nguyên đơn bà Trần Thị Hồng V tổng số tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động là 27.202.500 đồng. Buộc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải chịu án phí lao động sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Công ty Cổ phần Tổng hợp VP, có địa chỉ trụ sở tại: Lô 23, khu công

nghiệp QP, phường QP, tp QN, tỉnh Quảng Ngãi. Ngoài ra, nguyên đơn bà Trần

Thị Hồng V là người lao động khởi kiện vụ án tranh chấp về trợ cấp thôi việc khi

chấm dứt hợp đồng lao động, bà V có địa chỉ tại tổ 18, phường TP, tp QN, tỉnh

QN. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi thụ lý vụ án tranh chấp về trợ

cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động theo yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn bà Trần Thị Hồng V là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1

Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm đ khoản 1

Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa đến lần thứ hai

nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào

các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo

quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân

sự.

Về nội dung:

Bà Trần Thị Hồng V là công nhân dệt tròn tại phân xưởng PP thuộc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP, đã ký kết hợp đồng lao động và làm việc từ tháng 9-1995 cho đến tháng 12-2008 tổng cộng thời gian làm việc liên tục là 13 năm 4 tháng. Vào ngày 01-5-2018 bà Trần Thị Hồng V đơn phương xin chấm dứt hợp đồng lao động với Công ty Cổ phần Tổng hợp VP, đến ngày 25-5-2018, Giám đốc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP ban hành quyết định số 66/QĐ-VP về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Trần Thị Hồng V. Nội dung Quyết định tại Điều 3 thể hiện “Bà V đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nên các chế độ, chính sách được giải quyết theo quy định của pháp luật Nhà nước hiện hành và được Công ty Cổ phần Tổng hợp VP chi trả trợ cấp thôi việc. Cụ thể như sau:

Tổng số năm làm việc cho Công ty Cổ phần Tổng hợp VP để hưởng trợ cấp thôi việc, từ tháng 9-1995 đến tháng 12-2008 là: 13 năm 4 tháng.

Mức trợ cấp thôi việc: 4.185.000 đồng : 2 = 2.092.500 đồng.

Số tháng được hưởng trợ cấp thôi việc: 13 tháng.

Tổng số tiền trợ cấp thôi việc: 2.092.500 đồng x 13 = 27.202.500 đồng.

Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 25-5-2018”.

[2.2] Theo quy định tại khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Lao động về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động: “Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”.

Tuy nhiên, từ khi chấm dứt hợp đồng lao động với bà Trần Thị Hồng V (ngày 25-5-2018) đến nay, Công ty Cổ phần Tổng hợp VP vẫn chưa thanh toán khoản tiền trợ cấp thôi việc là 27.202.500 đồng cho bà Trần Thị Hồng V. Do đó, bà Trần Thị Hồng V khởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải thanh toán dứt điểm cho bà V số tiền trợ cấp thôi việc 27.202.500 đồng và bà V không yêu cầu tính lãi suất là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải chịu án phí lao động sơ thẩm với số tiền là: 27.202.500 đồng x 3% = 816.075 đồng.

Bà Trần Thị Hồng V không phải chịu án phí lao động sơ thẩm. Bà V là người lao động khởi kiện đòi trợ cấp thôi việc, đã được Tòa án miễn tiền tạm ứng án phí nên không xử lý.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm đ khoản 1 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các điều 147, 235, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37, Điều 47, Điều 48, khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Lao động năm 2012; Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Hồng V.

Buộc Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Hồng V 27.202.500 đồng (hai mươi bảy triệu, hai trăm lẻ hai ngàn, năm trăm đồng) tiền trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Công ty Cổ phần Tổng hợp VP phải chịu 816.075 đồng (tám trăm mười sáu ngàn, không trăm bảy mươi lăm đồng) án phí lao động sơ thẩm.

Bà Trần Thị Hồng V không phải chịu án phí lao động sơ thẩm. Bà V đã được Tòa án miễn tiền tạm ứng án phí nên không xử lý.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ