- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Nguyễn Thị H - Phòng Giaó dục đào tạo thị xã H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/LĐ-PT Ngày: 28-3-2019 V/v T/c xử lý kỷ luật lao động theo hình thức buộc thôi việc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Thẩm phán:
Bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bà Lê Thị Kim Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Tuyến, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2019/TLPT-LĐ ngày 17 tháng 01 năm 2019 về việc “Tranh chấp xử lý kỷ luật lao động theo hình thức buộc thôi việc”.
Do bản án lao động sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2019/QĐ-PT ngày 18 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 322, ấp Ông N, xã B, thị xã K, tỉnh L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Văn Đ – Văn phòng Luật sư T, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K, tỉnh L. Địa chỉ: Số 116, Quốc lộ 62, Phường 1, thị xã K, tỉnh .
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Xuân L, chức vụ: Trưởng phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K, tỉnh L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Chí B; chức vụ: Phó Trưởng phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K, tỉnh L. Theo văn bản ủy quyền ngày 19/3/2019 của Trưởng phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K, tỉnh L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trường Mẫu giáo Hòa B. Địa chỉ: ấp Ông N, xã B, thị xã K, tỉnh L.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim L, chức vụ: Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2016, đơn khởi kiện bổ sung ngày 02/8/2016 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày như sau:
Vào ngày 26/5/2015, bà làm đơn tố cáo bà Nguyễn Thị Kim L (Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B) đã có những việc làm sai trái, vi phạm đạo đức nghề nghiệp gửi tới Ban lãnh đạo và Ban thanh tra nhân dân Công đoàn Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K nhằm mục đích yêu cầu cấp có thẩm quyền có hình thức xử lý thích đáng bà Long.
Ngày 24/5/2016, Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B ban hành Quyết định số 91/QĐ-TrMGHB kỷ luật bà với hình thức “Buộc thôi việc” vì các lý do: Tố cáo sai, chưa đúng sự thật, tự bịa đặt sự việc làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của đồng nghiệp, giáo viên của nhà trường, gây mất đoàn kết nội bộ. Vi phạm quy định tại khoản 4, Điều 6 của quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo; Uống rượu trong trường học và những nơi không được phép. Vi phạm khoản 6, Điều 6 của Quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo; Trong quá trình kiểm điểm đã được các ngành, các cấp và hội đồng sư phạm nhà trường nhiều lần phân tích sự việc, động viên, tạo điều kiện, cho cơ hội bà Nguyễn Thị H nhìn nhận những thiếu sót, sai trái của mình để sửa chữa, khắc phục. Làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của đồng nghiệp giáo viên nhà trường, gây mất đoàn kết nội bộ và ảnh hưởng đến ngành giáo dục, gây dư luận không tốt trên địa bàn thị xã và cả địa bàn ngoài thị xã; Bà Nguyễn Thị H vi phạm khoản 3, Điều 3 và khoản 2, Điều 13 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức.
Nhận thấy Quyết định kỷ luật buộc thôi việc nêu trên là oan sai, không có căn cứ, không phản ánh được sự thật khách quan của vụ việc, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B.
Bà Văn Thị Mỹ Yên là đại diện theo ủy quyền của bị đơn Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K, tỉnh L trình bày:
Bà Nguyễn Thị H được Trưởng phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện M (nay là thị xã K), tỉnh L ký Quyết định tuyển dụng vào vị trí giáo viên mầm non ngày 07/02/1994 và mãn thời gian tập sự, chuyển chính thức vào ngày 09/01/1995. Bà được phân công công tác giảng dạy tại Trường mẫu giáo Bình H (nay là Trường mẫu giáo Hòa B), xã B, huyện M (nay là thị xã K), tỉnh L.
Ngày 17/5/2016, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K có văn bản kiến nghị số 88/KN-HĐKL yêu cầu Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B ra quyết định kỷ luật viên chức đối với bà Nguyễn Thị H với những lý do sau đây: Nội dung tố cáo theo đơn tố cáo ngày 26/5/2015 của bà H tố cáo bà Nguyễn Thị Kim L cố tình hạ thấp uy tín của cô Lê Thị Mỹ D là sai, có hành vi cố ý gây mất đoàn kết nội bộ.
Ngày 24/5/2016, Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B, xã B, thị xã K, tỉnh Long An ban hành Quyết định số 91/QĐ-TrMGHB với hình thức buộc thôi việc đối với bà Nguyễn Thị H.
Về lý do kỷ luật đối với bà Nguyễn Thị H là do: Bà H tố cáo sai, chưa đúng sự thật, tự bịa đặt sự việc làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của đồng nghiệp giáo viên trường, vi phạm khoản 4, Điều 6 quy định về đạo đức nhà giáo ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 và vi phạm khoản 7, Điều 11 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP; Bà H gây mất đoàn kết nội bộ, vi phạm khoản 5, Điều 10 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012. Bà H uống rượu trong trường học và nơi không được phép. Vi phạm quy định tại khoản 6, Điều 6 quy định về đạo đức nhà giáo, ban hành kèm theo Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/4/2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo và quy định tại khoản 2, Điều 10 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012; Trong quá trình xử lý kỷ luật bà H, Hội đồng kỷ luật Trường mẫu giáo Hòa B có nhận và xem xét Báo cáo kết quả xác minh của Công an thị xã K ngày 02/3/2016 và tham khảo Quyết định kỷ luật số 08/QĐ/UBKT.TXU ngày 29/9/2015 của Ủy ban kiểm tra thị ủy K là phù hợp, cụ thể như sau: Theo Báo cáo kết quả xác minh của Công an thị xã K ngày 02/3/2016 “Cô Nguyễn Thị H và cô Đinh Thị Thu Th, Trường mẫu giáo Hòa B đi vận động phụ huynh học sinh bên ngoài nhà trường để làm nhân chứng tố cáo một số vấn đề có liên quan đến cô Nguyễn Thị Kim L là có sự thật.” Theo Quyết định kỷ luật số 08/QĐ/UBKT.TXU ngày 29/9/2015 của Ủy ban kiểm tra thị ủy K “Vi phạm Điều 5 Quy định số 47-QĐ-TW ngày 01/11/2011 của Ban chấp hành trung ương về Những điều Đảng viên không được làm như: Tố cáo mang tính bịa đặt,…. và căn cứ mục g, khoản 2, Điều 14 Quy định số 181-QĐ-TW ngày 30/3/2013 của Ban chấp hành trung ương về “Xử lý kỷ luật Đảng viên vi phạm” như: tố cáo mang tính bịa đặt, vu khống, đả kích có dụng ý xấu, bôi nhọ thanh danh, gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của người khác”. Bà H vi phạm nhiều khuyết điểm với các hình thức kỷ luật khác nhau và không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, Hội đồng kỷ luật Trường mẫu giáo Hòa B thực hiện theo khoản 2 và khoản 3, Điều 3 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012. Với tất cả những lý do nêu trên, Hội đồng kỷ luật Trường mẫu giáo Hòa B bỏ phiếu thống nhất hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với bà Nguyễn Thị H và đã đề nghị Thủ trưởng đơn vị là bà Nguyễn Thị Kim L - Hiệu trưởng nhà trường ra quyết định kỷ luật đối với bà Nguyễn Thị H với hình thức “Buộc thôi việc” là đúng. Do đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K không đồng ý với yêu cầu của bà Nguyễn Thị H về việc hủy Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016. Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã K giữ y Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B.
Bà Nguyễn Thị Kim L là đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trường Mẫu giáo Hòa B trình bày:
Bà với cương vị là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập ban hành Quyết định kỷ luật với hình thức buộc thôi việc đối với bà Nguyễn Thị H là đúng quy định. Cụ thể, bà đã căn cứ vào: Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức; Kết luận nội dung tố cáo số 291/KL-UBND ngày 28/5/2016 của UBND thị xã K; Quyết định thi hành kỷ luật số 08/QĐ-UBKT.TXU ngày 29/9/2015 của Ủy ban kiểm tra Thị ủy K; Biên bản họp xét kiểm điểm viên chức ngày 22/4/2016; Biên bản họp Hội đồng xử lý kỷ luật viên chức số 88/KN-HĐKL ngày 17/5/2016 của Trường mẫu giáo Hòa B; Trong quá trình xử lý kỷ luật bà Nguyễn Thị H có thái độ không tiếp thu, không thành khẩn nhận khuyết điểm.
Do đó, bà Long yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã K giữ y Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã tổ chức hòa giải nhưng kết quả không thành.
Tại bản án lao động sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, Điều 147, 226 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 123 Bộ luật Lao động; Điều 52 Luật Viên chức ngày 15/11/2010; khoản 2, khoản 3 Điều 3, khoản 2 Điều 10, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức; Pháp lệnh số 10/2009/PL – UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu hủy Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với các đương sự.
Ngày 27/9/2016, bà Nguyễn Thị H kháng cáo không đồng ý toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã quyết định:
Hủy bản án lao động sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Đình chỉ giải quyết vụ án “Tranh chấp xử lý kỷ luật buộc thôi việc giữa bà Nguyễn Thị H với Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K.
Hoàn lại các khoản tiền tạm ứng án phí sơ, phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị H là 400.000đ.
Sau khi có bản án phúc thẩm, bà Nguyễn Thị H tiếp tục có đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm.
Ngày 15/6/2018, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 108/QĐKNGĐT-VC3-LĐ kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An để xét xử phúc thẩm lại.
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 04/2018/LĐ-GĐT ngày 30/8/2018, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định hủy toàn bộ bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/01/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án để giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị H trình bày như sau: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2016 và yêu cầu kháng cáo theo đơn kháng cáo ngày 27/9/2016, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì xác định sai bị đơn trong vụ án.
Luật sư Lê Văn Đ phát biểu quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Nguyễn Thị H như sau:
Bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B, nhưng Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An lại xác định Phòng Giáo dục và Đào tại thị xã K là bị đơn trong vụ án là không đúng. Việc xác định sai tư cách tố tụng này, ông đã có ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm nhưng Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An không xem xét là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Đại diện bị đơn Phòng Giáo dục và Đào tại thị xã K và đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường Mẫu giáo Hòa B không đồng ý kháng cáo của bà H, đề nghị giữ nguyên Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án lao động ở giai đoạn phúc thẩm như sau: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Trường Mẫu giáo Hòa B là đơn vị sự nghiệp công lập, có tư cách pháp nhân. Trước thời điểm bị xử lý kỷ luật thì bà H là viên chức thuộc quyền quản lý của Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B. Căn cứ Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B ban hành quyết định kỷ luật viên chức do mình quản lý là đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, khi bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Hòa B thì Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xác định Phòng Giáo dục và Đào tại thị xã K là bị đơn là không phù hợp, vi phạm thủ tục tố tụng. Đề nghị, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, hủy toàn bộ bản án lao động sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An giải quyết sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về Tố tụng: Quyết định giám đốc thẩm số 04/2018/LĐ-GĐT ngày 30/8/2018, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định hủy toàn bộ bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết phúc thẩm lại theo quy định của pháp luật. Do đó, bản án lao động sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An vẫn chưa có hiệu lực pháp luật và đang bị kháng cáo theo đơn kháng cáo 27/9/2016 của nguyên đơn Nguyễn Thị H. Kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị H được thực hiện đúng thủ tục, thời hạn luật định, nên vụ án được xem xét, giải quyết phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H và ý kiến của Luật sư Đ về việc cho rằng Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định không đúng bị đơn (người bị kiện) trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Nội dung đơn khởi kiện ngày 03/6/2016 của bà Nguyễn Thị H (bút lục 01), ý kiến trình bày của bà H và Luật sư Đ tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An hủy bỏ Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B. Như vậy, bị đơn (người bị kiện) trong vụ án phải được xác định là Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B, nhưng trong đơn khởi kiện bà H lại xác định người bị kiện là Trường Mẫu giáo Hòa B là chưa chính xác. Lẽ ra, khi nhận đơn khởi kiện của bà H (có kèm theo Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B (theo biên bản giao nhận chứng cứ ngày 06/6/2016 – bút lục 03)) thì Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An phải thông báo, hướng dẫn cho bà H sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo hướng xác định bị đơn (người bị kiện) là Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An lại căn cứ nội dung Công văn 672/PGDĐT ngày 13/7/2016 của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K (bút lục 14) cho rằng Trường Mẫu giáo Hòa B là đơn vị hạch toán phụ thuộc để ban hành Thông báo sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện số 15/TB-TA ngày 15/7/2016 yêu cầu bà H sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo hướng xác định người bị kiện là Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện M (nay là thị xã K), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Trường Mẫu giáo Hòa B là không phù hợp với các tài liệu mà Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K gởi kèm theo Công văn 672/PGDĐT ngày 13/7/2016. Căn cứ đơn khởi kiện ngày 02/8/2016, bà H đã thực hiện việc sửa đổi bổ sung người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo đúng yêu cầu của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An nhưng về yêu cầu khởi kiện bà H vẫn giữ nguyên là yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An hủy bỏ Quyết định kỷ luật số 91/QĐ-TrMGHB ngày 24/5/2016 của Hiệu trưởng Trường Mẫu giáo Hòa B. Ngày 04/8/2016, Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã thụ lý vụ án theo yêu cầu khởi kiện của bà H. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 12/9/2016 Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K có Công văn số 836/PGDĐT gởi Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An (bút lục 316) xác định Trường Mẫu giáo Hòa B là đơn vị hạch toán độc lập. Tuy nhiên, sau khi nhận được văn bản này, cho đến khi xét xử sơ thẩm, dù có ý kiến của Luật sư Đ tại phần tranh luận (bút lục 367) về xác định tư cách bị đơn (người bị kiện) của Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K là không đúng, nhưng Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An vẫn xét xử và ra bản án xác định bị đơn là Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã K, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Trường Mẫu giáo Hòa B là xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Ngoài ra, Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã tiến hành các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nhưng Tòa án không chuyển hồ sơ cùng Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường nghiên cứu để cử Kiểm sát viên tiến hành tố tụng, khi xét xử không có sự tham gia tố tụng của đại diện Viện kiểm sát là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được quy định tại khoản 2 Điều 21, khoản 2 Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những phân tích trên, cho thấy việc giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, cần hủy toàn bộ bản án sơ thẩm theo đề nghị của Kiểm sát viên và Luật sư bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật. Khi thụ lý, giải quyết lại Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An cần hướng dẫn nguyên đơn Nguyễn Thị H làm lại đơn khởi kiện xác định lại bị đơn (người bị kiện) đúng theo như phân tích ở phần trên. Kiểm tra lại và cho bà H thực hiện thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo đúng quy định vì các khoản tiền tạm ứng án phí trước đây đã được bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên hoàn trả lại cho bà H.
Về án phí: Bà H không phải chịu án phí phúc thẩm. Các khoản tiền tạm ứng án phí sơ, phúc thẩm bà H đã tạm nộp trước đây đã được hoàn lại cho bà H theo bản án lao động phúc thẩm số 02/2017/LĐ-PT ngày 12/01/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị H.
Hủy toàn bộ bản án lao động sơ thẩm số 01/2016/LĐ-ST ngày 26 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An giải quyết sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác (nếu có) sẽ được quyết định khi vụ án được giải quyết lại.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - TAND TX Kiến Tường; - Chi cục THADS TX Kiến Tường; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Khánh |