vanban.org

Bản án 01/2019/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Buộc ông Nguyễn Văn M - chủ hộ kinh doanh Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả 1.625.280.136 đồng tiền nợ mua thuốc bảo vệ thực vật cho Công ty cổ phần tập đoàn L. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty cổ phần tập đoàn L và ông Nguyễn Văn M."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Luật thương mại; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/KDTM-ST.
Ngày: 11 - 10 - 2019.
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Viễn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Phúc;

2. Ông Huỳnh Trung Thảo.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trần Minh Châu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Mỏl, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26/9/2019, 11/10/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2019/TLST-KDTM ngày 26 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-KDTM ngày 10/9/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/QĐST-KDTM ngày 26/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần tập đoàn L, địa chỉ: 23 đường H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Người đại diện hợp pháp: Mai Hùng C, sinh năm 1994, là chuyên viên pháp lý của Công ty, là người đại diện theo ủy quyền.

2. Bị đơn: Nguyễn Văn M, sinh năm 1962, là chủ hộ kinh doanh Nguyễn Văn M, địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Ông C có mặt, ông M vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và người đại diện trình bày: Ngày 02/11/2015, giữa Công ty với hộ kinh doanh Nguyễn Văn M có ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa với mặt hàng kinh doanh là thuốc bảo vệ thực vật, tính đến ngày 31/12/2018 thì hộ kinh doanh còn nợ công ty số tiền gốc là 1.625.280.136 đồng, các bên đã có đối chiếu công nợ nhưng đến nay hộ kinh doanh chưa trả tiền. Do đó khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn M là chủ hộ kinh doanh trả số tiền nợ gốc trên.

- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn Nguyễn Văn M không có mặt và cũng không cung cấp lời khai.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định. Về ý kiến giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Các đương sự có đăng ký kinh doanh và tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh về hợp đồng mua bán thuốc bảo vệ thực vật, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng theo địa chỉ của bị đơn ở tại huyện Tam Nông trong hợp đồng bằng văn bản theo quy định tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại các Điều 30, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tòa án đã thực hiện thông báo và tống đạt cho bị đơn theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn không cung cấp tờ khai và cũng không ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng mua bán hàng hóa số 157/HĐMB-TĐLT ngày 02/11/2015 và bản đối chiếu công nợ có chữ ký của bị đơn nhưng phía bị đơn không có ý kiến hay phản đối gì. Do đó nghĩ buộc ông Nguyễn Văn M - chủ hộ kinh doanh Nguyễn Văn M trả cho Công ty L số tiền 1.625.280.136 đồng là phù hợp quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 24, 50, 55 của Luật thương mại.

Từ nhận định trên, nên chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát.

Về án phí dân sự sơ thẩm: áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ông M, chủ hộ kinh doanh Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả tiền thì phải chịu án phí trên là 60.758.404đồng (làm tròn 60.758.000 đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 92 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 24, 50, 55 của Luật thương mại; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

- Buộc ông Nguyễn Văn M - chủ hộ kinh doanh Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả 1.625.280.136 đồng tiền nợ mua thuốc bảo vệ thực vật cho Công ty cổ phần tập đoàn L.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Nguyễn Văn M - chủ hộ kinh doanh Nguyễn Văn M phải nộp 60.758.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Công ty cổ phần tập đoàn L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần tập đoàn L 30.379.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp (do Huỳnh Đăng S nộp thay) theo biên lai thu số BH/2018/0000535 ngày 25/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, người yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ