- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Bảo trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 01/2019/HSST Ngày: 11/01/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN
Hội đồng xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thống
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Hà – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Liễu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, số 34 Nguyễn Văn Trỗi, Phường 15, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 003/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 001/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc B, sinh ngày 29/01/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hộ khẩu thường trú: 120/116/5 Đường T, Phường N, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc V và bà Nguyễn Thị T; vợ: Phạm Thị Kim N; con: 01, Nguyễn Ngọc Tường V sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 09/12/2018; tạm giam ngày 18/12/2018 tại Nhà tạm giữ Công an quận Phú Nhuận. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Tô Trường Vĩnh H, sinh năm 1994
Địa chỉ: 120/102 Đường T, Phường N, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
(Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lý Thị Ngọc Lan, sinh năm 1966
Địa chỉ: 120/102 Đường T, Phường N, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/12/2018, Nguyễn Ngọc B đi xe ôm từ Quận 5 về nhà thuê của ba mẹ, B xuống xe và đi vào hẻm 120 Đường T, Phường N, quận Phú Nhuận. Khi đi đến trước nhà số 120/102 Đường T thì B nhìn thấy trước cửa nhà có dựng 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đen biển số 52F8-5957 không có khóa cổ và không có người trông coi, B liền đi đến lấy xe đẩy bộ hướng về đường Đường TĐQ, quận G thì bị người bị hại là anh Tô Trường Vĩnh H phát hiện truy hô và đuổi theo, do hoảng sợ nên B bỏ chiếc xe vừa lấy trộm được trước nhà số 5/41 Đường TĐQ, Phường 01, quận G thì bị bắt giữ giao Công an Phường N, quận Phú Nhuận xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc B khai nhận do cần tiền tiêu xài nên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận ngày 17/12/2018 thì chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đen biển số 52F8-5957 trị giá 6.000.000 đồng (bút lục số 25).
Theo Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSPN ngày 02/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị can Nguyễn Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo đã gây ra như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã nêu.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và bị cáo.
Sau khi phát biểu ý kiến kết luận về vụ án, phân tích đánh giá các chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên mức án đối với bị cáo Nguyễn Ngọc B từ 09 tháng đến 12 tháng tù, trả lại chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đen biển số 52F8-5957 cho bà Lan.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Ngọc B: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình; kính mong Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc B tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung Quyết định truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại. Vụ án còn được chứng minh qua hoạt đồng điều tra như biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người, thu giữ vật chứng, kết quả định giá … cùng các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo khai nhận khoảng 13 giờ 30 phút ngày 08/12/2018, bị cáo đi xe ôm từ Quận 5 về nhà thuê của ba mẹ, bị cáo xuống xe và đi vào hẻm 120 Đường T, Phường N, quận Phú Nhuận. Khi đi đến trước nhà số 120/102 Đường T thì bị cáo nhìn thấy trước cửa nhà có dựng 01 chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đen biển số 52F8-5957 không có khóa cổ và không có người trông coi, bị cáo liền đi đến lấy xe đẩy bộ hướng về đường Đường TĐQ, quận G thì bị người bị hại là anh Tô Trường Vĩnh H phát hiện truy hô và đuổi theo, do hoảng sợ nên bị cáo bỏ chiếc xe vừa lấy trộm được trước nhà số 5/41 Đường TĐQ, Phường 01, quận G thì bị bắt giữ giao Công an Phường N, quận Phú Nhuận xử lý.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Với những tình tiết được chứng minh như trên đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Ngọc B đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Ngọc B tính đến ngày phạm tội không có tiền án tiền sự và phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra tại phiên tòa hôm nay cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã tỏ thái độ thành khẩn khai báo, tài sản đã kịp thời thu hồi và giao trả cho bị hại, thiệt hại chưa xảy ra. Hội đồng xét xử nghĩ có chiếu cố giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo theo điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thỏa đáng.
Tội phạm của bị cáo thực hiện là nguy hại cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật B vệ mà còn gây mất an ninh trật tự xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng do tính tư lợi, tham lam, lười biếng lao động nên bị cáo đã phạm tội. Do đó, khi lượng hình cần có hình phạt nghiêm, buộc bị cáo tiếp tục chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới đủ sức răn đe, giao dục và phòng ngừa chung.
Về vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Mio màu đen biển số 52F8-5957, qua xác minh chủ xe là bà Lý Thị Ngọc Lan, nên Cơ quan điều tra Công an quận Phú Nhuận đã trả lại xe cho bà Lan (bút lục số 79).
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số seri 357383046894365 thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc B.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa hôm nay, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, qua xem xét hồ sơ bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ở dạng tội phạm này, ngoài hình phạt tù bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn không có khả năng nộp phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào các Điều 455, Điều 456, Điều 463 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/12/2018.
Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Ngọc B.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Trả lại cho bị cáo B 01 điện thoại di động hiệu Nokia, số seri 357383046894365 nhưng tạm giữ để đảm B thi hành án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2019).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận toàn sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nôi nhaän:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án Tp.HCM;
- Công an quận Phú Nhuận;
- VKSND quận Phú Nhuận;
- Bị cáo;
- Đương sự;
- Chi cuïc THADS quận Phú Nhuận;
- Sôû tö phaùp Tp.HCM;
- Công an PC53;
Traàn Văn Thống
- Lưu HS.