vanban.org

Bản án 01/2019/HS-ST — Hình sự

Tòa án Khu vực 2 - QK3, án Quân khu 3 Tuyên án 26/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN QUÂN SỰ
KHU VỰC 2 - QUÂN KHU 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HS-ST
Ngày 26-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 2 - QUÂN KHU 3

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 4/ Vũ Tuấn Hai

Các Hội thẩm quân nhân:

2// Hà Thái Học;

4/ Nguyễn Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: 3/ Bùi Đức Tùng, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực 2

- Quân khu 3.

- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 tham gia phiên tòa: 3/ Nguyễn Thị Huân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường Bệnh viện Q5 - Cục H - QK3, Tòa án quân sự Khu vực 2 - Quân khu 3 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2019/TLST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh D, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09 tháng 01 năm 1976, tại xã NG, huyện HL, tỉnh NB nơi cư trú: Số nhà 7, ngõ 135, đường S, phố PH, phường PT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Đinh Thị C; chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 24/5/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử và tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/4/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử và tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 19/11/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử và tuyên phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/4/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử và tuyên phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/8/2001 bị Công an thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, ngày 22/3/2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xét xử và tuyên phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 29/9/2006 bị Uỷ ban nhân dân thị xã Ninh Bình quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng. Các vi phạm trên đã được xóa và coi như chưa vi phạm; bị “Tạm giữ” từ ngày 09/7/2019 đến ngày 15/7/2019; bị “Tạm giam” từ ngày 15/7/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Quân khu 3; Có mặt.

- Bị hại: Ông Đinh Văn T, sinh năm 1950; nghề nghiệp: Hưu trí; nơi cư trú: Thôn 4, xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình; Vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn X; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 09/7/2019, Nguyễn Mạnh D đi xe đạp vào Bệnh viện Q5 - Cục H - QK3 với mục đích lấy cây tầm gửi. D gửi xe tại Bệnh viện và đi bộ vào Khoa Nội - Tim - Thận - Khớp (Khoa A2). Tại đây, D quan sát thấy trên giường bệnh nhân Đinh Văn T ở buồng bệnh số 1 có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5, lợi dụng lúc mọi người ở buồng bệnh số 1 đang ngủ, D đã lấy chiếc điện thoại này bỏ vào túi quần và đi ra khỏi Bệnh viện. Khi D vừa ra khỏi Bệnh viện thì bị vệ binh Bệnh viện và lực lượng Công an phường PT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình phát hiện, bắt giữ. Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an Phường PT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình lập hồi 14 giờ ngày 09/7/2019 có nội dung: Khoảng 13 giờ ngày 09/7/2019, Công an phường PT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình phát hiện Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1976, trú tại: Phố PH, phường PT điều khiển xe đạp mini màu xanh gửi xe ở lán xe của Bệnh viện Q5. D đi bộ vào Khoa A2 của Bệnh viện, sau đó đi vào phòng đầu phía bên tay trái thấy có khoảng 3, 4 bệnh nhân đang ngủ, bên trong có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy màn hình cảm ứng đang cắm sạc ở đầu giường. D đã lấy chiếc điện thoại đó và nhanh chóng ra khỏi Bệnh viện. Tổ công tác công an Phường PT tiến hành đuổi theo D vào ngõ 17/96 đường H thuộc phố PT, phường PT. Khi thấy tổ công tác đuổi theo, D dừng xe lại và ném chiếc điện thoại vào khu đất trống. Tổ công tác đã bắt giữ Nguyễn Mạnh D, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Tại kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐ ngày 11/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản Uỷ ban nhân dân thành phố NB, tỉnh Ninh Bình kết luận: Chiếc điện thoại Samsung J5 do Nguyễn Mạnh D trộm cắp tại Bệnh viện Q5 có giá trị 1.800.000 đồng. Lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn X tại phiên tòa có nội dung: Khoảng gần 13 giờ ngày 09/7/2019, tôi phát hiện Nguyễn Mạnh D là đối tượng nghiện ma tuý, chuyên trộm cắp tài sản vào Bệnh viện. Tôi điện báo cho lực lượng Công an phường PT biết để cùng phối hợp theo dõi. Tôi đi theo D vào Khoa A2 và nhìn thấy D lấy chiếc điện thoại di động của một bệnh nhân tại buồng bệnh số 1 đang để trên giường sạc điện. Sau khi lấy được chiếc điện thoại di động trên D đã nhanh chóng đi ra khỏi bệnh viện. Tôi cùng lực lượng Công an phường PT đuổi và bắt quả tang. Sau đó, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ chiếc điện thoại di động.

Lời khai của bị hại ông Đinh Văn T trong hồ sơ vụ án xác định: Tôi đang điều trị tại Bệnh viện Q5. Trưa ngày 09/7/2019, tôi để chiếc điện thoại Samsung J5 màu vàng, ốp màu nâu ở đầu giường và đi ngủ, đến khoảng 13 giờ 30 phút tỉnh dậy, tôi phát hiện chiếc điện thoại bị mất. Tôi liền thông báo cho bệnh viện và được biết Công an phường PT, thành phố NB đã bắt được đối tượng lấy cắp chiếc điện thoại. Đến nay tôi đã được nhận lại chiếc điện thoại đã mất và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSKV32 ngày 28 tháng 8 năm 2019, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 truy tố Nguyễn Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh D, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D từ 6 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/7/2019). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị hại ông Đinh Văn T không yêu cầu bị cáo Nguyễn Mạnh D phải bồi thường gì, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 của ông T đã được thu hồi, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu (theo Biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 27/8/2019) nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với 01 chiếc xe đạp mini màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen. Quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp trên là của bà Đinh Thị C (mẹ đẻ D) bà C không biết D sử dụng chiếc xe đạp vào Bệnh viện trộm cắp tài sản; chiếc điện thoại của bị cáo D không sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản. Vì vậy, Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 4 - Quân khu 3 đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại chiếc xe đạp trên cho bà C và chiếc điện thoại di động cho bị cáo (theo các Biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 16/8/2019), đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Mạnh D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Mạnh D đồng ý với các nội dung luận tội của Kiểm sát viên và không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo ân hận về sai phạm của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt sớm được về với gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định: Vào khoảng 13 giờ ngày 09/7/2019, Nguyễn Mạnh D đi bộ vào Khoa A2 của Bệnh viện Q5, Cục H, QK3, lợi dụng lúc các bệnh nhân ở buồng bệnh số 1 đang ngủ, D đã trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 trị giá 1.800.000 đồng của bệnh nhân Đinh Văn T; ngày 25/4/2017, Nguyễn Mạnh D bị Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/01/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội và kết luận của Kiểm sát viên về các nội dung cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ. [3] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại Bệnh viện Q5. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử và kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích; 01 lần bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 lần bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, những vi phạm trên của bị cáo đã được xóa và coi như chưa vi phạm, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án mà bị cáo đã gây ra, cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị bắt quả tang, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường gì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có bố đẻ ông Nguyễn Văn T được trao tặng huy hiệu 45 năm tuổi Đảng cũng là căn cứ Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về dân sự: Bị hại ông Đinh Văn T không yêu cầu bị cáo Nguyễn Mạnh D phải bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 của ông T đã được thu hồi, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 32 đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chủ sở hữu (theo Biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 27/8/2019) theo đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với 01 chiếc xe đạp mini màu xanh, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen. Quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp trên là của bà Đinh Thị C (mẹ đẻ của bị cáo) bà C không biết D sử dụng chiếc xe đạp vào Bệnh viện trộm cắp tài sản; chiếc điện thoại của bị cáo D không sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản. Cơ quan Điều tra hình sự khu vực 4 - Quân khu 3 đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại chiếc xe đạp trên cho bà C và chiếc điện thoại di động cho bị cáo (theo các Biên bản trả lại đồ vật, tài liệu ngày 16/8/2019), nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Mạnh D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh D, phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh D 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (09/7/2019). 2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Mạnh D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. 3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2019) đối với bị cáo; kể từ ngày nhận được bản án đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án quân sự Quân khu 3./.

Cỡ chữ