vanban.org

Bản án 01/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 15/01/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th (Ly Ly) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th (Ly Ly) 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2018. Bị cáo Nguyễn Văn Th phải tiếp tục bồi thường cho bà Ninh Thị Ng số tiền 672.300.000 (Sáu trăm bảy mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng đã chiếm đoạt. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th (Ly Ly) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HS-ST
Ngày 15-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bích Văn Nhiên

Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Trinh, ông Đào Văn Sáng, bà Lê Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2018/TLST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2018/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018, quyết định hoãn phiên tòa số 23/2018/HSST-QĐ ngày 27 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Th (Ly Ly), sinh năm 1968 tại Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố 8, phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Đào Thị Ch; bị cáo không có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận (có mặt)

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Lê Văn Khánh – Đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận (có mặt)

- Bị hại: Bà Ninh Thị Ng, sinh năm 1968

Nơi cư trú: Thôn MH, xã HM, huyện HTN (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đào Thị Ch, sinh năm 1941

Nơi cư trú: Khu phố 8, phường MN, thành phố PT(vắng mặt)

2. Bà Võ Thị Thu Ng, sinh năm 1963

Nơi cư trú: Khu phố 10, phường MN, thành phố PT (vắng mặt)

3. Bà Trần Thị L, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Khu phố 12, phường MN, thành phố PT (vắng mặt)

4. Đinh Thị A, sinh năm 1973

Nơi cư trú: Khu phố 10, phường MN, thành phố PT (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Th là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định mà có hoạt động xem bói tại địa phương. Khoảng đầu tháng 9/2017, Th đến nhà chị Võ Thị Th ở thôn MT, Xã HM, huyện HTN để xem bói cho những người có nhu cầu. Qua tìm hiểu, Nguyễn Văn Th biết bà Ninh Thị Ng đang có nhu cầu bán rẫy thanh long của gia đình tại xã TQ, huyện HTN, tỉnh Bình Thuận. Do đó, Nguyễn Văn Th nảy sinh ý định lừa bà Ng để chiếm đoạt tài sản.

Để thực hiện ý định phạm tội, Nguyễn Văn Th nói với bà Ng rằng mình có khả năng cúng “làm phép” giúp bà Ng nhanh chóng bán được rẫy. Do trong quá trình xem Th bói, bà Ng thấy Th nói đúng về quá khứ của gia đình cũng như bản thân mình nên bà Ng tin tưởng và đồng ý để Th cúng “làm phép” cho mình. Nguyễn Văn Th cúng “làm phép” bằng hai hình thức là cúng tại rẫy thanh long nhà bà Ng và cúng tại nhà của Th ở tại khu phố 8, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết.

Đối với hình thức cúng “làm phép” tại rẫy thanh long: Th và bà Ng cùng đến rẫy thanh long của gia đình bà Ng. Trước khi đi, Th gọi điện và yêu cầu bà Ng chuẩn bị và đem theo một số tiền cụ thể gói bằng giấy màu đỏ hoặc màu trắng, đem theo dao thái lan và nhang để cúng. Khi đến rẫy, Th sử dụng dao thái lan đào một lỗ nhỏ tại một vị trí nhất định ở lô thứ hai và thứ ba trong rẫy. Sau đó Th yêu cầu bà Ng bỏ bọc tiền đem theo vào lỗ này rồi đi đốt nhang. Lợi dụng lúc bà Ng đốt nhang và mất cảnh giác Th lấy bọc tiền bỏ vào trong người của Th rồi lấp đất lại. Khi bà Ng đốt nhang xong quay lại thì Th “làm phép” và nói với bà Ng không được tự ý đào tiền lên vì Th đã làm phép, nếu đào lên sẽ mất linh. Do đó bà Ng không dám tự ý đào tiền lên mà chỉ làm dấu ở những vị trí chôn tiền. Bằng thủ đoạn này, Th đã lừa bà Ng 19 lần để lấy tổng số tiền là 1.634.000.000 đồng . Tuy nhiên, trong thời gian này, để tạo thêm lòng tin của bà Ng, Th đã 3 lần đào các hố lấp tiền để lấy lên và trả lại cho bà Ng 256.000.000 đồng. Thực tế đây là số tiền Th lấy ra từ số tiền đã chiếm đoạt trước đó của bà Ng và giả vờ đào được tiền rồi đưa cho bà Ng.

Như vậy, số tiền Nguyễn Văn Th lừa đảo chiếm đoạt của bà Ninh Thị Ng bằng thủ đoạn chôn tiền cúng “làm phép” tại rẫy là 1.273.000.000 đồng.

Đối với hình thức cúng “làm phép” tại nhà của Th ở phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết thì Th yêu cầu bà Ng đưa tiền trực tiếp cho Th hoặc chuyển tiền qua tài khoản Ng hàng để Th mua đồ và cúng “làm phép”. Bà Ng tin tưởng nên đã 7 lần đưa trực tiếp cho Nguyễn Văn Th với số tiền 260.300.000 đồng và 2 lần chuyển tiền qua tài khoản ATM của bà Đào Thị Chính là mẹ ruột của Th với số tiền là 44.000.000 đồng.

Như vậy, số tiền Nguyễn Văn Th lừa đảo chiếm đoạt của bà Ninh Thị Ng bằng thủ đoạn đưa tiền để cùng “làm phép” tại nhà của Th là 304.300.000 đồng.

Cũng bằng thủ đoạn trên, khoảng 19 giờ ngày 13/4/2018 tại thôn Minh Tiến, xã Hàm Minh, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, Th tiếp tục lừa bà Ng để lấy 105 triệu đồng thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam bắt quả tang.

Tổng cộng, Nguyễn Văn Th đã 29 lần lừa để chiếm đoạt tài sản của bà Ninh Thị Ng là 1.682.300.000 đồng, trong đó đã chiếm đoạt trót lọt 28 lần với số tiền 1.577.300.000 đồng, đến lần thứ 29 khi đang nhận 105.000.000 triệu thì bị CQĐT bắt quả tang.

Qua đấu tranh, Nguyễn Văn Th khai nhận hành vi phạm tội của mình, thống nhất đã nhận tiền của bà Ninh Thị Ng tổng cộng là 29 lần với tổng số tiền chiếm đoạt là 1.682.300.000 đồng. Số tiền này Th đã tiêu xài, đánh bạc và cho người khác vay.

Ngày 14/4/2018 Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Thuận Nam tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Th tại số nhà 8/17 đường Nguyễn Minh Châu, khu phố 8, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, đã thu giữ 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH519506, BH868627, AM002494, CG419855. Kết quả điều tra thể hiện 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này là do Th nhận giữ để cho Võ Thị Thu Nguyệt, Trần Thị Loan, Đinh Thị Ánh mượn 105 triệu đồng. Hiện nay gia đình bà Võ Thị Thu Nguyệt và bà Trần Thị Loan chấp nhận để bà Ninh Thị Ng tiếp tục giữ 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bà Nguyệt và bà Loan tiếp tục trả số tiền đã mượn của Th cho bà Ng, còn 2 sổ của gia đình bà Đinh Thị Ánh thì bà Ánh nhận về sau khi trả lại cho bà Ng số tiền mà bà Ánh đã mượn của Th.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Mặt khác, Nguyễn Văn Th đã cùng gia đình dùng thửa đất số 76 tờ bản đồ số 19 với diện tích 164,5m2 ở khu phố 1, phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết trị giá 800.000.000 đồng để cấn trừ cho gia đình bà Ninh Thị Ng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự nguyện khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 51 BLHS .

Nguyễn Văn Th không có nghề nghiệp và đã thực hiện 29 lần phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 52 BLHS.

Các tang vật trong vụ án : Ngày 15/10/2018 Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà Đào Thị Chính 01 sổ hộ khẩu gia đình mang tên Đào Thị Chính, 2 thẻ ATM mang tên Đào Thị Chính và Phạm Thị Ngọc Hiền, 2 điện thoại di động của Nguyễn Văn Th, đây là những tang vật CQĐT thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Th vào ngày 14/4/2018.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSBT-P1 ngày 07/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận trình bày luận tội:

Giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th từ 08 năm đến 10 năm tù

Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải tiếp tục trả lại cho bà Ninh Thị Ng số tiền 672.300.000 (Sáu trăm bảy mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng đã chiếm đoạt

- Luật sư trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có nhân thân tốt, không nghề nghiệp, đã tác động gia đình khắc phục 01 phần hậu quả, người bị hại cũng có phần lỗi, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt quy định.

- Bị cáo Nguyễn Văn Th trình bày lời bào chữa: Bị cáo thống nhất như lời bào chữa của ông luật sư và không bào chữa bổ sung.

- Ý kiến của bị hại: Bị cáo đã khắc phục hậu quả được 905.000.000 đồng, đề nghị bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 672.300.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Thuận, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Văn Th đã lợi dụng sự mê tín dị đoan, nhẹ dạ cả tin về chuyện xem bói của bà Ninh Thị Ng, từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018, bị cáo Th đã 29 lần lừa cúng làm phép giúp bà Ng bán rẫy thanh long để chiếm đoạt của bà tổng số tiền 1.682.300.000 đồng. Ngày 13/4/2018, khi Th lừa và đang lấy 105.000.000 đồng của bà Ng thì bị Cơ quan điều tra bắt quả tang và đã giao trả lại cho người bị hại 105.000.000 đồng

Với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn Th là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lẽ ra bị cáo phải chăm chỉ lao động để kiếm tiền một cách chính đáng nhưng bị cáo lại lợi dụng việc xem bói, dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng số tiền 1.682.300.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Th là hết sức nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử phạt bị cáo bằng một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo Nguyễn Văn Th đã cố ý thực hiện hành vi lừa dối bị hại Ninh Thị Ng 29 lần, bị cáo đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã tác động gia đình dùng thửa đất số 76 tờ bản đồ số 19 với diện tích 164 m2 tọa lạc tại khu phố 1, phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết trị giá 800.000.000 đồng và khoản tiền 105.000.000 đồng của bà Võ Thị Thu Nguyệt, Trần Thị Loan và Đinh Thị Ánh đang nợ bị cáo để bồi thường cho bị hại.

Đối với thửa đất trị giá 800.000.000 đồng là của gia đình bị cáo thỏa thuận để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tuy các thủ tục pháp lý chưa hoàn thành để chuyển quyền sở hữu cho bị hại, bà Loan và bà Nguyệt chưa trả đủ số tiền cho bị hại nhưng tại phiên tòa bị hại chấp nhận, bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng cộng là 905.000.000 đồng, bị hại yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 672.300.000 đồng. Xét việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại của bị hại và bị cáo là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với tình tiết luật sư cho rằng trong vụ án này bị hại cũng có phần lỗi, nhưng Đại diện Viện kiểm sát không đồng ý lời bào chữa của luật sư. Hội đồng xét xử không chấp nhận lời bào chữa của luật sư vì 29 lần có hành vi lừa dối của bị cáo đã lợi dụng lòng tin vào sự bói toán của bị hại để chiếm đoạt tài sản như lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả thiệt hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như lời bào chữa của luật sư là có cơ sở nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt quy định. Xét lời bào chữa của ông luật sư là có cơ sở nên chấp nhận.

Vật chứng vụ án: Ngày 15/10/2018 Cơ quan điều tra đã giao trả cho bà Đào Thị Ch 01 sổ hộ khẩu gia đình mang tên Đào Thị Ch, 2 thẻ ATM mang tên Đào Thị Ch và Phạm Thị Ngọc H, 2 điện thoại di động của Nguyễn Văn Th, đây là những tang vật Cơ quan Điều tra thu giữ khi khám xét nơi ở của Nguyễn Văn Th vào ngày 14/4/2018 là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 52, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Th (Ly Ly) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Th (Ly Ly) 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2018.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Văn Th phải tiếp tục bồi thường cho bà Ninh Thị Ng số tiền 672.300.000 (Sáu trăm bảy mươi hai triệu ba trăm nghìn) đồng đã chiếm đoạt.

Căn cứ vào: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 30.892.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm thông báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/01/2019. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án.

Cỡ chữ