- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hùng M và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật Tố t ng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H. Đ H – T.TH H H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/HS-ST Ngày 23-01-2019 |
NHÂN DANH
ƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ GHĨ VIỆT NAM
TÒA ÁN H
H Ệ
Đ H, T H TH H H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng V
nh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Việt Hòa.
2. Ông Nguyễn Văn Sấn.
- Thư ký phiên tòa: à Lê Th Dung - Th ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Yên Đ nh, t nh Thanh óa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: à Phạm Th Tân - iểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 01 năm 2019 tại Tr s Tòa án nhân dân huyện Yên Đ nh, t nh Thanh óa x t xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 52/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2018 theo Quyết đ nh đ a v án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2019 đối với các b cáo:
1.
và tên: Nguyễn Hùng M, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1994 tại xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Nơi c trú: thôn ng Tiến, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, t nh Thanh óa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ng: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1966, con bà: Nguyễn Th N, sinh năm 1972, hiện đang sinh sống tại xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng óa, t nh Thanh óa; b cáo ch a có vợ, con; tiền sự: không;
Tiền án: 02 tiền án.
- Ngày 10/8/2017, b Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 29/11/2018, b Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
B cáo b bắt tạm gi từ ngày 03/9/2018, đến ngày 12/9/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Thanh Hóa theo Lệnh tạm giam của Công an huyện Nông Cống, Thanh Hóa. Hiện b cáo đang b tạm giam để đảm bảo thi hành bản án số 55/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, Thanh Hóa. B cáo b tạm giam có mặt tại phiên tòa.
2. và tên: Nguyễn Văn L, sinh ngày 18 tháng 10 năm 1997 tại xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh óa. Nơi c trú: th n òa ải, xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, t nh Thanh óa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc t ch: Việt Nam; con ng: Nguyễn Văn B, sinh năm 1975, con bà: Phạm Th A, sinh năm 1975, hiện đang sinh sống tại xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc, t nh Thanh Hóa; b cáo ch a có vợ, con; tiền sự: không;
Tiền án: 02 tiền án.
- Ngày 21/6/2016, b Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
- Ngày 28/6/2017, b Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
B cáo b bắt tạm gi từ ngày 21/8/2018, đến ngày 27/8/2018 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Thanh Hóa. B cáo b tạm giam có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hùng M:
Bà Lê Thu Hằng - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà n ớc t nh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người bị hại:
1. nh Vũ Minh Đ, sinh năm: 1995
Trú tại: Th n Tân Lai, xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh, Thanh Hóa.
2. Ch Nguyễn Th H, sinh năm: 1963
Trú tại: Th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh, Thanh Hóa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Danh K, sinh năm: 1994
Trú tại: Th n Đồng Mẫu, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
2. Anh Nguyễn Ng c T, sinh năm: 1991
Trú tại: Số 01 Trần Phú, ph ờng Điện Biên, TP. Thanh Hóa, Thanh Hóa.
- Những người làm chứng:
1. Anh Phạm Văn C, sinh năm: 1997
Trú tại: Thôn Ng , xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.
2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1994
Trú tại: Thôn Sau, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
3. Ch Hoàng Th M, sinh năm: 1963
Trú tại: Thôn Sau, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt toàn bộ ng ời b hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan và ng ời làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án đ ợc tóm tắt nh sau:
Do có quan hệ bạn bè từ tr ớc nên Nguyễn Hùng M, sinh năm 1994 xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa và Nguyễn Văn L, sinh năm 1997 xã Hòa Lộc, huyện Hậu Lộc đã gặp nhau và cùng nhau tại một nhà ngh th trấn út Sơn, huyện Hoằng Hóa. Trong lúc nhà ngh , M có lấy ra 01 chiếc vam phá khóa bằng kim loại hình ch T cho Nguyễn Văn L xem. Ngày 11/8/2018, M rủ L đi làm kiếm con xe. L hiểu là M rủ L đi trộm cắp xe máy nên L đồng ý. Sau đó Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L cùng nhau đi về nhà anh Nguyễn Danh K sinh năm 1994 th n Đồng Mẫu, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, t nh Thanh óa m ợn xe máy biển kiểm soát 36B2-53410 loại xe Wave S màu xám đen bạc để làm ph ơng tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi m ợn đ ợc xe máy M cùng L đi đến thành phố Thanh óa để chơi. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày M ch L đi từ khu vực cầu Nguyệt Viên Thành phố Thanh óa đến huyện Yên Đ nh. M điều khiển xe đi d c quốc lộ 45. hi đi đến đ a phận huyện Yên Đ nh, đoạn gần đến cầu Si thì thấy có chỗ đang đ ng ng ời M quay đầu xe lại và rẽ phải đi vào khoảng 50 mét thì thấy đó là tr ờng h c. M điều khiển xe chạy qua cổng khoảng 20 mét rồi dừng xe lại quay đầu xe đi ng ợc ra gần cổng thì thấy có chiếc xe Dream màu nâu, biển kiểm soát 36F3-3689 của anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1995 th n Tân Lai, xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh đang dựng phía bên tay trái theo h ớng từ ngoài vào, đầu xe h ớng vào trong, đu i xe h ớng ra ngoài đ ờng quốc lộ 45 kh ng có ng ời trông coi quản lý. Lúc này M dừng xe lại, đi bộ đến v trí để chiếc xe Dream, dùng vam bằng kim loại hình ch T đã chuẩn b sẵn từ tr ớc phá ổ khóa điện của xe còn L làm nhiệm v canh gác ng ời. Sau khi phá đ ợc khóa điện của xe máy nêu trên M điều khiển xe vừa trộm cắp đ ợc chạy ra đ ờng quốc lộ 45. Thấy M đã trộm cắp đ ợc xe, Nguyễn Văn L cũng điều khiển xe máy biển kiểm soát 36B2-534.10 chạy theo ra quốc lộ 45. Lúc này L b lạc đ ờng nên đã g i điện thoại cho M ch đ ờng. M ch đ ờng cho L đi về thành phố Thanh Hóa. Khi chạy đến thành phố Thanh Hóa cả hai gặp nhau. M và L tiếp t c điều khiển xe chạy về huyện Hoằng Hóa để trả xe cho Nguyễn Danh K. Sau khi trả xe cho K, M và L sử d ng chiếc xe Dream vừa trộm cắp đ ợc làm ph ơng tiện đi lại. Đến sáng ngày 12/8/2018, Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L mang chiếc xe Dream vừa trộm cắp đ ợc đến nhà Nguyễn Văn Q sinh năm 1994 thôn Sau, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng óa để gửi xe. Gửi đ ợc khoảng 1 tuần thì M và L đến lấy làm ph ơng tiện đi lại. Đến sáng ngày 21/8/2018 khi M và L đang điều khiển xe Dream tại khu vực dốc Âu, ph ờng Nam Ngạn, Thành phố Thanh Hóa thì b quần chúng nhân dân phát hiện nh ng M đã bỏ trốn còn L b bắt gi .
Sau khi b trộm cắp tài sản, b hại Vũ Minh Đ đã có đơn trình báo về việc b kẻ gian trộm cắp 01 xe máy Dream màu nâu, biển kiểm soát 36F3-3689 tại khu vực xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh, t nh Thanh Hóa ngày 11/8/2018. Sau khi nhận đ ợc tin báo, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Yên Đ nh đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh thu thập chứng cứ.
Ngày 22/8/2018, Cơ quan CSĐT C ng an Yên Đ nh đã có Quyết đ nh yêu cầu đ nh giá tài sản đối với chiếc xe máy nêu trên mà Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L đã trộm cắp của anh Vũ Minh Đ. Ngày 23/8/2018, Hội đồng đ nh giá tài sản Huyện Yên Đ nh đã có kết luận số 32/BB- ĐĐGTS kết luận 01 xe máy Dream, màu nâu, BKS 36F3-3689 số máy C100 ME0177810, số khung C100M0177810 đăng ký lần đầu năm 1999 (Đăng ký xe mang tên Nguyễn Viết Dũng) có giá tr 17.500.000 đồng.
Quá trình điều tra m rộng v án, Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L còn khai nhận: Ngày 18/7/2018, Nguyễn Hùng M m ợn một chiếc xe máy nhãn hiệu HongChi, màu nâu biển kiểm soát 36F9-4427 của Phạm Văn C sinh năm 1997, trú tại thôn Ng , xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc làm ph ơng tiện để đi trộm cắp tài sản. M ch L đi d c quốc lộ 45, khi chạy qua cầu Si, xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh khoảng gần 1km thì nhìn thấy một cửa hàng xăng dầu nằm bên phải theo chiều di chuyển, M điều khiển xe rẽ phải, đi thêm một đoạn thì gặp một ngã ba, M tiếp t c rẽ phải, đi thêm khoảng 4 km thì đến chợ Nhì thuộc xã Đ nh Hòa. Thấy cổng chợ có nhiều xe và đang đ ng ng ời nên M và L dừng lại. M đi lại chỗ xe đang dựng thì phát hiện có một chiếc xe máy nhãn hiệu HonDa, loại xe Wave an pha biển kiểm soát 36B5-535.69 màu đỏ đen của ch Nguyễn Th H, sinh năm 1963, trú tại th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh đang dựng ngoài cùng đầu xe h ớng vào đất trống, đu i xe quay ra đ ờng. M đi lại chiếc xe Wave màu đỏ đen, lấy trong túi quần ra 01 bộ vam phá khóa bỏ vào ổ khóa điện m khóa rồi lên xe bỏ chạy. M chạy tr ớc, L chạy theo sau. Đi đ ợc khoảng 7km thì cả hai cùng rẽ về Thiệu óa sau đó chạy về thành phố Thanh Hóa thì M và L đổi xe cho nhau, cả hai cùng chạy về huyện Hà Trung. Khi về đến Hà Trung, Nguyễn Văn L điều khiển chiếc xe máy vừa trộm cắp đ ợc chạy lên cầu Lèn bán cho một ng ời đàn ng qua đ ờng với giá 3.000.000 đồng. Số tiền trên M và L đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 08/10/2018, Cơ quan CSĐT C ng an Yên Đ nh đã có Quyết đ nh yêu cầu đ nh giá tài sản đối với chiếc xe máy Wave anpha nêu trên mà Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L đã trộm cắp đ ợc ngày 18/7/2018. Ngày 02/11/2018, Hội đồng đ nh giá tài sản Huyện Yên Đ nh đã có kết luận số 42/BB- ĐĐGTS kết luận 01 xe máy Wave an pha màu đỏ đen, S 36 5-535.69 đ ợc mua năm 2016 có giá 14.800.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Đ nh đã thu hồi và trả lại chiếc xe máy Dream, biển kiểm soát 36F3-3689, màu nâu cho anh Vũ Minh Đ, sinh năm 1995, trú tại th n Tân Lai, xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh, t nh Thanh Hóa. Anh Đ không yêu cầu đề ngh bồi th ờng gì thêm.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave anpha, màu đỏ đen biển kiểm soát 36B5-535.69 các b cáo trộm cắp của ch Nguyễn Th H, sinh năm 1963, trú tại th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh: Ch Nguyễn Th H đã có đơn yêu cầu các b cáo phải bồi th ờng thiệt hại số tiền là 18.000.000đ, nh ng hiện tại các b cáo ch a bồi th ờng, khắc ph c thiệt hại cho ch H.
Vật chứng của v án gồm:
- 01 xe máy Dream, biển kiểm soát 36F3-3689, màu nâu là tài sản các b cáo trộm cắp của anh Vũ Minh Đ.
- 01 xe máy Honda, loại xe Wave S, biển kiểm soát 36B2-534.10, màu xám đen bạc là công c ph ơng tiện mà Nguyễn Hùng M m ợn của Nguyễn Danh K sinh năm 1994 trú tại xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng óa để làm công c , ph ơng tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 11/8/2018.
- 01 xe máy nhãn hiệu HongChi, màu nâu biển kiểm soát 36F9-4427 Nguyễn Hùng M m ợn của Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1997 xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc để làm công c ph ơng tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp xe máy ngày 18/7/2018.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu FoxFone F112i, màu vàng cam là công c Nguyễn Văn L liên lạc với Nguyễn Hùng M trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
- Đối với 01 xe máy Wave anpha nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 36B5-535.69 các b cáo trộm cắp của ch Nguyễn Th H, th n Mai Trung xã Đ nh Hòa sáng ngày 18/7/2018. Sau khi trộm cắp các b cáo đã bán cho một ng ời đàn ng qua đ ờng với giá 3.000.000 đồng nên cơ quan Cảnh sát Điều tra không thu hồi đ ợc.
- Đối với số tiền 3.000.000 đồng có đ ợc từ việc bán chiếc xe Wave anpha mà các b cáo trộm cắp của ch Nguyễn Th H th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh, các b cáo Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không thu hồi đ ợc.
Tại bản cáo trạng số 53/CT-V SYĐ ngày 13/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đ nh đã truy tố các b cáo Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 của ộ luật ình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đ nh rút truy tố các b cáo Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L đối với tình tiết đ nh khung hình phạt “phạm tội có tổ chức” theo điểm a khoản 2 điều 173 của Bộ luật Hình sự, chuyển truy tố Nguyễn Hùng M theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự và vẫn gi nguyên quyết đ nh truy tố đối với Nguyễn Văn L theo điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật Hình sự và đề ngh ội đồng x t xử áp d ng các quy đ nh của pháp luật và tuyên phạt b cáo c thể nh sau:
p d ng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của ộ luật ình sự.
Xử phạt Nguyễn Hùng M từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
p d ng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của ộ luật ình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn L từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm gi .
Về trách nhiệm dân sự: Đề ngh ĐXX căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố t ng hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu bồi th ờng thiệt hại của ch Nguyễn Th H, buộc các b cáo Nguyễn Hùng M, Nguyễn Văn L phải liên đới bồi th ờng cho ch H số tiền là 14.800.000đ.
Về xử lý vật chứng: Đề ngh ĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của ộ luật ình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của ộ luật Tố t ng hình sự, t ch thu, nộp ngân sách Nhà n ớc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FoxFone F112i, màu vàng cam là công c Nguyễn Văn L liên lạc với Nguyễn Hùng M trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của ộ luật Tố t ng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội.
B cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 370.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho b cáo Nguyễn Hùng M.
Quan điểm của ng ời bào ch a Lê Thu Hằng: Việc Viện kiểm sát rút truy tố Nguyễn Hùng M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 và chuyển truy tố theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng với quy đ nh của pháp luật, tuy nhiên đề ngh Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo vì trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ ợc quy đ nh tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, b cáo Nguyễn Hùng M có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thuộc diện hộ cận nghèo. Vì vậy đề ngh Hội đồng xét xử lên cho M mức án thấp nhất để có thể sớm cải tạo thành ng ời có ích cho xã hội. Do b cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên đề ngh Hội đồng xét xử áp d ng điểm đ khoản 1 Điều 12 ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội để miễn án phí cho M là phù hợp với quy đ nh của pháp luật.
NHẬ Đ NH CỦA HỘI Đ G T :
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã đ ợc tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh nh sau:
[1] Về hành vi, quyết đ nh tố t ng của Cơ quan điều tra C ng an huyện Yên Đ nh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đ nh, iểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy đ nh của ộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố t ng, ng ời tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, ng ời tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá việc rút truy tố của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đ nh tại phiên tòa sơ thẩm:
Từ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án và đ ợc thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng: Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L tr ớc và trong khi thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc c thể với nhau, không có sự phân công vai trò của từng ng ời trong việc chuẩn b công c phạm tội cũng nh không có việc phân chia vai trò của các b cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội, khi Nguyễn Hùng M rủ Nguyễn Văn L “đi làm kiếm con xe” là L hiểu ý của M là đi trộm cắp tài sản. Khi thấy tài sản, M để xe cho L điều khiển còn mình đi đến chỗ tài sản để trộm cắp, sau khi trộm cắp đ ợc tài sản, L thấy M chạy tr ớc thì điều khiển xe chạy sau. Do đó, hành vi của M và L là tiếp nhận ý trí của nhau trong việc trộm cắp tài sản nên thuộc tr ờng hợp đồng phạm, tuy nhiên việc đồng phạm của cả hai thuộc tr ờng hợp đồng phạm giản đơn. Vì vậy việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Đ nh rút truy tố về tình tiết “phạm tội có tổ chức” là đúng với bản chất của sự việc, đúng với việc phạm tội của các b cáo. Từ nh ng phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy việc rút truy tố đối với Nguyễn Hùng M từ điểm a khoản 2 điều 173 của Bộ luật Hình sự để truy tố theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự và rút truy tố Nguyễn Văn L đối với điểm a khoản 2 điều 173 và truy tố Nguyễn Văn L theo điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng với quy đ nh của pháp luật, có cơ s để chấp nhận việc rút truy tố.
[3] Về hành vi phạm tội của các b cáo Nguyễn Hùng M, Nguyễn Văn L:
Ngày 18/7/2018, Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L dùng vam phá khóa trộm cắp 01 xe máy Wave anpha nhãn hiệu onda màu đỏ đen tại khu vực chợ Nhì xã của ch Nguyễn Th H, sinh năm 1963, trú tại Th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh có giá tr 14.800.000đ. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 11/8/2018, Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L cũng đã dùng vam phá khóa trộm cắp 01 xe máy Dream màu nâu nhãn hiệu Honda, tr ờng Tiểu h c xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh, t nh Thanh Hóa của anh Vũ Minh Đ sinh năm 1995, trú tại th n Tân Lai, xã Đ nh Bình, huyện Yên Đ nh có giá tr 17.500.00đ. Tổng giá tr tài sản các b cáo trộm cắp là 32.300.00đ.
Đối với Nguyễn Danh K, sinh năm 1994, trú tại th n Đồng Mẫu, xã Hoằng Lộc, Huyện Hoằng óa là ng ời đã đồng ý cho Nguyễn Hùng M m ợn chiếc xe máy Honda loại xe Wave S, biển kiểm soát 36B2-534.10 màu xám đen bạc làm công c ph ơng tiện phạm tội nh ng bản thân K không biết việc M m ợn xe trên để đi trộm cắp tài sản nên Nguyễn Danh K không phạm tội.
Đối với Phạm Văn C, sinh năm 1994, trú tại thôn Ng , xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa là ng ời đã cho Nguyễn Hùng M m ợn chiếc xe máy nhãn hiệu HongChi, màu nâu biển kiểm soát 36F9-4427 để M sử d ng làm công c ph ơng tiện trộm cắp tài sản tuy nhiên C cũng kh ng biết việc M m ợn xe để làm công c ph ơng tiện phạm tội nên kh ng có cơ s để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C.
Đối với Nguyễn Văn Q, sinh năm 1994 và bà oàng Th M sinh năm 1963 đều trú tại thôn Sau, xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng Hóa, t nh Thanh Hóa là ng ời đã đồng ý cho Nguyễn Hùng M gửi chiếc xe Dream biển kiểm soát 36 F3-3689 trong khoảng thời gian một tuần. Tuy nhiên bản thân anh Q và bà M không biết chiếc xe máy trên là tài sản do M và đồng b n trộm cắp nên Nguyễn Văn Q và bà Hoàng Th M không phạm tội.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các b cáo Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội “trộm cắp tài sản” của mình nh nội dung bản cáo trạng. Lời khai nhận của các b cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Trong v án này có nhiều b cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm, nhiều lần thực hiện tội phạm, tr ớc và trong khi phạm tội các b cáo không có sự bàn bạc và phân công vai trò của từng b cáo vì vậy đây là đồng phạm giản đơn, do đó việc Viện kiểm sát truy tố b cáo Nguyễn Hùng M theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy đ nh của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn L là ng ời đã tái phạm nh ng ch a đ ợc xóa án tích lại tiếp t c phạm tội nên thuộc tr ờng hơp “tái phạm nguy hiểm” vì vậy việc đại diện Viện kiểm sát truy tố b cáo theo điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng quy đ nh của pháp luật.
Từ nh ng hành vi trên của các b cáo và việc rút truy tố của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ s kết luận Nguyễn Hùng M phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy đ nh tại khoản 1 Điều 173 của ộ luật hình sự, Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy đ nh tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4 Tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: ành vi của các b cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền s h u tài sản của c ng dân là một trong nh ng khách thể quan tr ng đ ợc pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự tr an tại đ a ph ơng. ản thân các b cáo có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Các b cáo phạm tội thuộc tr ờng hợp tái phạm và tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, t ơng xứng với hành vi phạm tội của các b cáo, cần áp d ng Điều 38 của ộ luật hình sự để cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể cải tạo các b cáo thành ng ời có ích cho xã hội. hi quyết đ nh hình phạt, cần xem x t tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng b cáo.
[5 Đánh giá vai trò của các b cáo trong v án:
Trong v án này, Nguyễn Hùng M là kh i x ớng, cầm đầu, chuẩn b công c gây án và trực tiếp thực hiện hành vi tội phạm. Khi trộm cắp đ ợc tài sản đã trực tiếp mang đi cất giấu, khi tiêu th tài sản trộm cắp thì chia nhau cùng h ng th . Do vậy M ch u trách nhiệm với vai trò số một trong v án.
Đối với Nguyễn Văn L khi đ ợc M rủ đi trộm cắp thì đã đồng ý. Khi trộm cắp đ ợc tài sản đã mang đi tiêu th . Sau khi tiêu th đ ợc tài sản thì chia nhau cùng h ng th . Do vậy Nguyễn Văn L là ng ời giúp sức tích cực trong việc thực hiện hành vi trộm cắp nên L phải ch u trách nhiệm vai trò thứ hai trong v án.
[6] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các b cáo Nguyễn ùng M và Nguyễn Văn L đều là ng ời có nhân thân xấu. Đối với b cáo Nguyền ùng M: Ngày 10/8/2017, b Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 29/11/2018 b Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, t nh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Đối với b cáo Nguyễn Văn L: Ngày 21/6/2016, b Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa xử phạt 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 28/6/2017, b Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, các b cáo không ch u sửa ch a để tr thành ng ời có ích cho xã hội mà khi thấy chủ s h u tài sản là anh Vũ Minh Đ và ch Nguyễn Th H sơ h trong việc quản lý tài sản, các b cáo đã l n lút chiếm đoạt nên tiếp t c phạm tội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với b cáo Nguyễn Hùng M: B cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” ch a đ ợc xóa án tích mà lại tiếp t c phạm tội, lần phạm tội này của b cáo thuộc tr ờng hợp “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi phạm tội “trộm cắp tài sản” mà b cáo thực hiện ngày 31/8/2018, b x t xử theo ản án số 55/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện N ng C ng, đ ợc thực hiện sau hành vi phạm tội trong v án này, đến thời điểm x t xử, bản án của Tòa án nhân dân huyện N ng Cống đã có hiệu lực pháp luật. Đây là tiền án nh ng kh ng đ ợc dùng làm căn cứ để áp d ng tình tiết tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, b cáo Nguyễn ùng M phạm tội kh ng thuộc tr ờng hợp tái phạm nguy hiểm. Trong lần phạm tội này b cáo Nguyễn Hùng M đã thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp 02 lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệ hình sự “phạm tội 02 lần tr lên” quy đ nh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. B cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, vì vậy cần phải lên cho b cáo một mức án thật nghiêm khắc, t ơng xứng với hành vi phạm tội của b cáo để giáo d c b cáo và phòng ngừa chung.
Tại phiên tòa, b cáo không thành khẩn nhận tội, khai báo quanh co vì vậy b cáo không đ ợc h ng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” theo điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với b cáo Nguyễn Văn L: cáo phạm tội thuộc tr ờng hợp tái phạm nguy hiểm nh ng kh ng thuộc tr ờng hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của ộ luật ình sự vì đã thuộc tr ờng hợp đ nh khung hình phạt theo điểm g khoản 2 Điều 173 của ộ luật ình sự. Trong lần phạm tội này b cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp 02 lần, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần tr lên” quy đ nh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. B cáo phạm tội thuộc tr ờng hợp tái phạm nguy hiểm và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, vì vậy cần phải lên cho b cáo một mức án thật nghiêm khắc, t ơng xứng với hành vi phạm tội của b cáo để giáo d c b cáo và phòng ngừa chung.
B cáo cũng kh ng đ ợc h ng tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự vì tại phiên tòa sơ thẩm cũng kh ng khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản mà các b cáo chiếm đoạt của anh Vũ Minh Đ đã đ ợc thu hồi trả cho anh Vũ Minh Đ, anh Vũ Minh Đ kh ng có yêu cầu bồi th ờng gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Chiếc xe máy Wave anpha nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 36B5-535.69 mà các b cáo trộm cắp của ch Nguyễn Th H, các b cáo đã bán, kh ng thu hồi đ ợc, nên ch Nguyễn Th H yêu cầu các b cáo bồi th ờng thiệt hại số tiền là 18.000.000đ. ội đồng xét xử xét thấy yêu cầu bồi th ờng 18.000.000đ là kh ng có cơ s để chấp nhận. Theo kết luận của Hội đồng đ nh giá tài sản Huyện Yên Đ nh ngày 02/11/2018: 01 xe máy Wave an pha màu đỏ đen, S 36 5-535.69 đ ợc mua năm 2016 đến thời điểm b các b cáo chiếm đoạt có giá 14.800.000 đồng. Vì vậy, ch có cơ s chấp nhận một phần yêu cầu của ch H, buộc các b cáo Nguyễn Hùng M, Nguyễn Văn L phải liên đới bồi th ờng cho ch H 14.800.000đ (Mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Chia theo phần: Các b cáo Nguyễn Hùng M, Nguyễn Văn L mỗi b cáo phải bồi th ờng cho ch Nguyễn Th H số tiền là: 7.400.000đ (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
[8 Xử lý vật chứng:
Đối với chiếc xe máy Dream, biển kiểm soát 36F3-3689, màu nâu là tài sản các b cáo trộm cắp của anh Vũ Minh Đ, chiếc xe này anh Đ m ợn của anh Nguyễn Ng c T số 01 Trần Phú, ph ờng Điện Biên, TP. Thanh Hóa, Thanh Hóa. Sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan cảnh sát Điều tra đã ra quyết đ nh xử lý vật chứng trả lại cho b hại Vũ Minh Đ là phù hợp với quy đ nh của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy Honda, loại xe Wave S, biển kiểm soát 36B2-534.10, màu xám đen bạc là công c ph ơng tiện mà Nguyễn Hùng M m ợn của Nguyễn Danh K sinh năm 1994 trú tại xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng óa để làm ph ơng tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 11/8/2018. Quá trình điều tra xác đ nh đây là tài sản M m ợn của K nh ng việc M đi trộm cắp tài sản K không biết. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho K là phù hợp với quy đ nh của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HongChi, màu nâu biển kiểm soát 36F9-4427 Nguyễn Hùng M m ợn của Phạm Văn C, sinh năm 1997 xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa để làm công c ph ơng tiện đi thực hiện hành vi trộm cắp xe máy ngày 18/7/2018 và sau đó M và C sử d ng làm công c ph ơng tiện đi trộm cắp tài sản tại huyện Nông Cống ngày 03/9/2018. Quá trình điều tra Công an huyện Nông Cống xác đ nh chiếc xe máy trên là tài sản của ông Phạm Văn D, sinh năm 1973, xã Tiến Lộc, huyện Hậu Lộc. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Nông Cống đã trả lại cho ông Phạm Văn D theo quy đ nh.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FoxFone F112i, màu vàng cam là công c Nguyễn Văn L liên lạc với Nguyễn Hùng M trong quá trình thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên cần t ch thu, nộp ngân sách Nhà n ớc.
Đối với chiếc xe máy Wave anpha nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 36B5-535.69 các b cáo trộm cắp của ch Nguyễn Th H, th n Mai Trung xã Đ nh Hòa sáng ngày 18/7/2018. Sau khi trộm cắp các b cáo đã bán cho một ng ời đàn ng qua đ ờng với giá 3.000.000 đồng, cơ quan Cảnh sát Điều tra không thu hồi đ ợc, nên kh ng có cơ s để xử lý.
Đối với số tiền 3.000.000 đồng có đ ợc từ việc bán chiếc xe Wave anpha mà các b cáo trộm cắp của ch Nguyễn Th H th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh, các b cáo Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không thu hồi đ ợc, nên kh ng có cơ s để xử lý.
[9] Về án phí:
cáo Nguyễn Văn L phải ch u án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy đ nh tại khoản 2 Điều 136 của ộ luật Tố t ng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội
B cáo Nguyễn ùng M thuộc diện hộ cận nghèo nên cần áp d ng điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội để miễn án phí cho b cáo là phù hợp với quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố Nguyễn Hùng M và Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điều 17; điều 56; điều 58; Điều 38 của ộ luật ình sự.
Xử phạt Nguyễn Hùng M 24( ai m ơi bốn) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 55/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, t nh Thanh Hóa, buộc Nguyễn Hùng M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 48(bốn m ơi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/9/2018.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điều 17; điều 58; Điều 38 của ộ luật ình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn L 36(ba m ơi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm gi (21/8/2018).
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật Tố t ng hình sự, Điều 584, Điều 589 và Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Buộc các b cáo Nguyễn Hùng M, Nguyễn Văn L phải liên đới bồi th ờng cho ng ời b hại Nguyễn Th H số tiền là 14.800.000đ (Mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
Chia theo phần: Các b cáo Nguyễn Hùng M, Nguyễn Văn L mỗi b cáo phải bồi th ờng cho ch Nguyễn Th H, trú tại: Th n Mai Trung, xã Đ nh Hòa, huyện Yên Đ nh, t nh Thanh Hóa số tiền là: 7.400.000đ (Bảy triệu bốn trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của ộ luật ình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của ộ luật Tố t ng hình sự.
T ch thu, nộp ngân sách Nhà n ớc: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu FoxFone F112i, màu vàng cam là công c Nguyễn Văn L liên lạc với Nguyễn Hùng M trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản.
Vật chứng nêu trên đ ợc mô tả chi tiết và đang đ ợc quy tr tại Chi c c thi hành án dân sự huyện Yên Đ nh theo phiếu nhập kho số 14/2019 ngày 14/12/2018.
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của ộ luật Tố t ng hình sự và khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội.
B cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 370.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng v Quốc hội.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho b cáo Nguyễn Hùng M.
5. Quyền kháng cáo: n xử c ng khai có mặt b cáo, vắng mặt ng ời b hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan. cáo có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ng ời b hại, ng ời có quyền lợi nghĩa v liên quan vắng mặt đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc ngày bản án đ ợc niêm yết theo quy đ nh của pháp luật.
| Nơi nhận: - V SND huyện Yên Đ nh; - Toà án nhân dân t nh Thanh oá; - Các b cáo; - Ng ời b hại; - Ng ời có quyền lợi, nghĩa v liên quan; - C ng an huyện Yên Đ nh; - Chi c c T DS Yên Đ nh; - L u hồ sơ. | TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kỳ Anh |