- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Kim T bị xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 09 (chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/HS-ST Ngày 09-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hải
Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 09/01/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1964, tại xã H, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp X, xã H, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An; Chỗ ở: Khu phố Y, thị trấn VH, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Thành K, sinh năm 1925 (đã chết) và bà Trương Thị Th, sinh năm 1925 (đã chết); Chồng: Nguyễn Trung H, sinh năm 1962; Chỗ ở: Xã V, huyện TH, tỉnh Long An. Bị cáo có 05 người con, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 2000; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo đã bị kết án 04 lần cùng về tội “Trộm cắp tài sản”, cụ thể: Ngày 11/6/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã TA (nay là Thành Phố TA) xử phạt 09 tháng tù; Ngày 25/5/2009 bị Tòa án nhân dân thị xã TA (nay là Thành Phố TA) xử phạt 01 năm 06 tháng tù; Ngày 23/11/2010 bị Tòa án nhân dân Thành Phố TA xử phạt 02 năm tù; Ngày 06/4/2013 bị Tòa án nhân dân Thành Phố TA xử phạt 03 năm tù. Đến ngày 18/11/2015 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành xong các nghĩa vụ khác được tuyên trong Bản án nên tính tới thời điểm thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, ngày 04/12/2018 thì bị cáo đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật hình sự. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2018 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Ông Phan Thái B, sinh năm 1977. Địa chỉ cư trú: Khu phố Y, thị trấn VH, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. (Có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995. Địa chỉ cư trú: Ấp R, thị trấn VH, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. (Vắng mặt không lý do).
2.Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1993. Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã TT, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. (Vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ sáng ngày 04/12/2018, Nguyễn Thị Kim T đi bộ từ nhà ra chợ VH với mục đích là đi ăn sáng, khi đi ngang qua nhà ông Phan Thái B, đường Nguyễn Thị Đ, khu phố Y, thị trấn VH, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An thấy cửa mở, quan sát xung quanh không thấy ai nên T nảy sinh ý định đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản. Bị cáo T đi vào nhà của ông B đường cổng chính và cửa chính rồi đi vào phòng ngủ, thấy một máy tính xách tay màu đen hiệu ASUS để trên bàn và 90.000đồng thì bị cáo liền lấy máy tính ôm trước bụng rồi phủ áo khoác bên ngoài và lấy luôn số tiền 90.000 đồng bỏ vào túi áo khoác rồi nhanh chóng rời khỏi hiện trường. Về đến nhà, bị cáo để máy tính vào bịch nylon màu đen rồi mang xuống nhà của Nguyễn Thanh T, ngụ ấp RB, thị trấn VH để nhờ T tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, T đã đồng ý mua máy tính với giá 1.000.000 đồng rồi T bán lại cho Nguyễn Văn Kh với giá 1.500.000đồng. Sau khi có tiền, bị cáo thuê xe sang Casino ở Campuchia đánh bạc. Đến trưa ngày 05/12/2018, khi bị cáo T về Vĩnh Hưng thì bị Công an mời làm việc và bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời đã tự nguyện giao nộp số tiền bán máy tính còn lại là 340.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 179/KL-HĐĐG ngày 07/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Vĩnh Hưng đã xác định: Giá trị còn lại của máy tính xách tay màu đen, hiệu ASUS là 4.000.000đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Hưng đã ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can và tiến hành điều tra làm rõ hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Kim T.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSVH ngày 24/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim T. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T từ 09 (chín tháng) đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Đối với Nguyễn Thanh T và Nguyễn Văn Kh đã có hành vi mua máy tính xách tay nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với T và Kh.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ nhà nước 340.000đồng (tiền bị cáo giao nộp cho cơ quan điều tra) vì số tiền này do phạm tội mà có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong nên không đề cập; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Vĩnh Hưng, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và của các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng với nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo, đồng thời phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ sáng ngày 04/12/2018, tại nhà ông Phan Thái B, đường Nguyễn Thị Đ, khu phố Y, thị trấn VH, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An, Nguyễn Thị Kim T đã thực hiện hành vi trộm cắp máy tính xách tay màu đen hiệu ASUS có giá trị 4.000.000đồng cùng 90.000 đồng của ông Phan Thái B. Sau đó bị cáo bán máy tính cho Nguyễn Thanh T, ngụ ấp RB, thị trấn Vĩnh Hưng với giá 1.000.000 đồng rồi sang Casino, Campuchia đánh bạc. Đến trưa ngày 05/12/2018, khi bị cáo T về Vĩnh Hưng thì bị Công an mời làm việc và bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền bán máy tính còn lại là 340.000 đồng.
Bị cáo là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự, tài sản mà bị cáo trộm cắp của bị hại có giá trị 4.090.000 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của bộ luật hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, không ai được quyền xâm phạm trái pháp luật nhưng bị cáo Nguyễn Thị Kim T đã chiếm đoạt một cách bất hợp pháp đến tài sản của người khác nên bị cáo phải gánh chịu hậu quả cho hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo đã gây ra.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đồng thời còn gây tư tưởng hoang mang cho nhân dân ở địa phương, ảnh hưởng an ninh trật tự xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, để có cơ sở tuyên một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra cần phân tích đánh giá về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như xem xét các đặc điểm về nhân thân của bị cáo.
Về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ việc bị cáo lười lao động, lại có thói quen bài bạc, muốn có tiền để tiêu xài nhưng không phải bỏ công sức. Để có được tiền, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, bất chấp hậu quả.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho cho người bị hại; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Đã bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An kết án phạt tù 04 lần cùng về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngoài ra, trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án này, bị cáo còn bị cơ quan chức năng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản của người khác số tiền 1.250.000 đồng.
Sau khi cân nhắc, xem xét toàn diện các tình tiết nêu trên, mặc dù bị cáo không được xem là có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật và để phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với anh Nguyễn Thanh T và Nguyễn Văn Kh đã có hành vi mua máy tính xách tay là vật chứng của vụ án nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T và Kh là phù hợp.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan chức năng đã thu giữ của bị cáo 340.000 đồng là số tiền bán máy tính còn lại. Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, xử lý tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 340.000 đồng là phù hợp vì đây là số tiền do phạm tội mà có (số tiền này hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại 90.000 đồng đã trộm cắp, bị hại đã nhận lại máy tính xách tay và không có yêu cầu gì thêm; Giữa bị cáo với anh Nguyễn Thanh T và Nguyễn Văn Kh đã tự thỏa thuận trao trả cho nhau những gì đã nhận và không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng sung công quỹ nhà nước theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim T 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/12/2018. Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị Kim T để đảm bảo công tác thi hành án phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, tuyên xử:
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 340.000 đồng (ba trăm bốn mươi nghìn đồng) mà cơ quan chức năng đã tạm giữ của bị cáo vì đây là số tiền do phạm tội mà có, hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng đang quản lý;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - VKSND, CCTHADS huyện Vĩnh Hưng; - Công an huyện Vĩnh Hưng; - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ; - Lưu. Bùi Đức Hảo Hồ Văn Bún | Huỳnh Thị Yến Linh |