- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Khắc phạm tội: “Trộm c p tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
N HOÀ H
H N H V T N M
HUY N HẢ LĂN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢN TRỊ Bản án số: 01/2019/HS-ST Ngày 15/01/2019.
NHÂN DANH
N
N H
H
H N H V T N M
T ÁN NHÂN DÂN HUY N HẢ LĂN , TỈNH QUẢN TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mão
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Bích
Ông Nguyễn Trung Văn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên – Th k Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên toà: Ông Phạm Tiến Quân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 01 năm 2019, tại hội tr ờng Nhà văn hóa khóm 3, thị trấn H, huyện H, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 11/2018/TLST-HS ngày 03/12/2018 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 01/2019/ HSST-QĐ ngày 03/01/2019, đối với bị cáo:
Lê Khắc ; tên gọi khác: không; sinh ngày 20/9/1976 tại tỉnh Quảng Trị. Nơi c tr : thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Khắc Gi, sinh năm 1934 và bà: Võ Thị L, sinh năm 1936 (đã chết năm 2003); có vợ là Nguyễn Thị Ph ơng L, sinh năm 1980 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c tr ; có mặt.
* Bị hại: Tập đoàn b u chính viễn thông Việt Nam
Địa chỉ: Số 57, phố H, ph ờng H, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam: Ông Lê Bá T – Giám đốc trung tâm viễn thông huyện H - đại diện theo ủy quyền.
(Văn bản ủy quyền ngày 11/10/2018).
* Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Ngô Thị A, sinh năm 1970; có mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
* Ng ời làm chứng:
Chị Nguyễn Thị O, sinh năm 1976; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
N DUN V ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Khoảng 3 năm tr ớc, Lê Khắc C đ ợc thuê kéo dây cáp viễn thông tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị nên C biết rõ các loại dây cáp viễn thông. Khoảng đầu tháng 8/2018 khi đi qua khu vực thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, C thấy tuyến dây cáp ở đây có 1 đầu không đấu nối nên biết tuyến dây trên không hoạt động, C nảy sinh định trộm cắp, đốt lấy lõi đ ng bán lấy tiền. C đã dùng các dụng cụ đã mua khi đ ợc thuê kéo dây cáp viễn thông g m: dây đeo bảo hộ, 4 cái bu long để trèo trụ điện, kìm cắt để làm công cụ trộm cắp tài sản, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 8 giờ ngày 11/8/2018 C điều khiển xe mô tô BKS 74F1-123.05 đi đến khu vực gần cầu H2 thuộc địa phận thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, quan sát thấy nhà ông Phạm M không có ng ời, phía sau v ờn có tuyến dây cáp viễn thông đi qua, nên dừng xe trên tỉnh lộ 582, đi vào phía sau v ờn nhà, đến trụ điện đầu tiên, dùng dây đeo và bu long trèo lên trụ, cầm kìm cắt đứt một đầu làm dây cáp rơi xuống đất, sau đó xuống đứng ở mặt đất tiếp tục dùng kìm cắt một đoạn dài 30m, phần dây còn lại cuộn và dấu vào gốc trụ điện, r i cuộn phần dây vừa lấy đ ợc cho vào bao tải đã chuẩn bị tr ớc đó, buộc vào xe chở về nhà cất giấu. Chiều ngày 11/8/2018 C đi đến vị trí cũ trèo lên trụ điện cắt phần dây còn lại 20m và định tháo ốc, vít cố định dây trên trụ để lấy đoạn tiếp theo nh ng không gỡ đ ợc ốc nên cắt ở đầu dây làm dây cáp rơi xuống sông T, C đi qua cầu H 2, sang bờ bên kia kéo đoạn dây vừa mới cắt đ ợc r i dùng kìm cắt thêm 01 đoạn dây dài 20m, phần còn lại dấu vào gốc trụ điện, sau đó C cuộn 2 đoạn dây tổng cộng 40 mét buộc vào xe chở về nhà cất giấu.
Lần thứ hai: Sáng ngày 12/8/2018 C đến vị trí trên trèo lên trụ điện cắt đoạn dây còn lại là 30 mét đã cuộn cất dấu từ hôm tr ớc; do không mở đ ợc ốc vít cố định dây để lấy đoạn tiếp theo nên C đã cắt đứt phần đầu dây làm rơi xuống đất r i leo xuống cắt thêm 1 đoạn dây 30 mét, đoạn dây này C tách phần dây thép chịu lực ra r i cuộn lại vứt vào bụi cây; 2 đoạn dây cắt đ ợc 60 mét cuộn lại bỏ vào bao tải chở về nhà, r i mang toàn bộ số dây trộm đ ợc của ngày 11/8/2018 và số dây vừa trộm xong ra bụi tre sau v ờn, đốt lấy lõi dây đ ng đ ợc 4,4kg. Khoảng 11 giờ cùng ngày có chị Ngô Thị A ở thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị đến mua lợn con tại nhà C. Thấy chị A có chở thêm phế liệu nên C hỏi và đ ợc biết chị A cũng thu mua dây đ ng, hai bên thỏa thuận bán số dây đ ng trên với giá 105.000 đ ng/1kg.
Khoảng 15 giờ 30 ph t ngày 12/8/2018 C tiếp tục đến địa điểm nêu trên để trộm cắp, do đoạn này dây điện chạy qua nhiều nhà dân, v ớng cành cây khó lấy. Nên C đi tiếp 165 mét về h ớng xã H, đến nhà của ông Huỳnh S có trụ điện ở gần ngõ vào nhà, dây điện băng qua nhà ông Hoàng D ơng H đến trụ điện nằm gần ngõ vào nhà bà Trần Thị Đ đều thuộc địa phận thôn H. C leo lên cắt đứt dây ở hai đầu trụ tại nhà ông S và nhà bà Đ đ ợc 30 mét, r i cuộn lại bỏ vào bao mang về nhà.
Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ 30 ph t ngày 13/8/2018 C tiếp tục đến thôn H, đi về h ớng xã H cách nhà bà Trần Thị Đ 100 mét, đến nhà ông Hoàng Ngọc L có trụ điện ở gần ngõ vào nhà, dây điện băng qua nhà bà Nguyễn Thị O đến trụ điện nằm gần ngõ vào nhà ông Phạm L, thuộc địa phận thôn H, C leo lên cắt đứt dây ở hai đầu trụ tại nhà ông L và nhà ông L đ ợc 40 mét, r i cuộn lại bỏ vào bao mang về nhà. Tr a ngày 14/8/2018 C mang toàn bộ số dây trộm đ ợc ra bụi tre sau v ờn, đốt lấy lõi dây đ ng đ ợc 3 kg, r i bán cho Ngô Thị A với giá 105.000 đ ng/1kg đ ng. Tổng cộng 2 lần bán là 7,4kg đ ng với số tiền thu đ ợc 780.000 đ ng. Quá trình mua bán Ngô Thị A không biết đây là tài sản do phạm tội mà có.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 24, 24a, 25, 25a và 26 ngày 04/9/2018 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 70 mét dây cáp đ ng nhãn liệu Sacom loại 50x2x0,5 có giá trị là 4.312.000 đ ng (trong đó 30 mét trộm cắp vào sáng 11/8/2018 là 1.848.000 đ ng; 40 mét trộm cắp vào chiều 11/8/2018 là 2.464.000 đ ng); 90 mét dây cáp đ ng nhãn liệu Sacom loại 50x2x0,5 có giá trị là 5.544.000 đ ng (trong đó 60 mét trộm cắp vào sáng 12/8/2018 là 3.696.000 đ ng; 30 mét trộm cắp vào chiều 12/8/2018 là 1.848.000 đ ng); 40 mét dây cáp đ ng nhãn hiệu Sacom loại 50x2x0,5 trộm cắp vào chiều 13/8/2018 có giá trị là 2.464.000 đ ng.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS-HL ngày 03/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng truy tố bị cáo Lê Khắc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, Kiểm sát viên gi nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 36 BLHS xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam gi , miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét. Về vật chứng: đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu, nộp ngân sách nhà n ớc 7,4kg dây đ ng; áp dụng điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại. Về án phí: đề nghị hội đ ng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đ ng với bản cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, và xin hội đ ng xét xử cho bị cáo đ ợc cải tạo tại địa ph ơng.
Tại phiên tòa hôm nay, ng ời đại diện hợp pháp bị hại khai đã nhận 14.000.000 đ ng tiền b i th ờng thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm về dân sự, không có kiến gì đối với trách nhiệm hình sự của bị cáo. Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai nhận có mua dây đ ng do bị cáo bán nh ng không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Số tiền mua dây đ ng là 780.000 đ ng đã đ ợc nhận lại và không có yêu cầu gì.
Ng ời làm chứng Nguyễn Thị O vắng mặt tại phiên tòa nh ng đã có lời khai tại các b t lục từ số 97 đến số 100 nh sau: Chiều ngày 13/8/2018 chị có nhìn thấy một ng ời đàn ông kéo dây điện đã cắt đ ợc, cuộn tròn dây lại và cho vào bao tải, r i lấy kìm và dây đeo bảo hộ cho vào một cái bao khác, sau đó bỏ hai bao tải này lên xe Wave biển kiểm soát 74F1-123.05 và chạy đi khỏi khu vực nhà chị.
NH N ĐỊNH
T ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã đ ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận định nh sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, ng ời có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ng ời nào có kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã đ ợc thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Trong ba ngày 11/8, 12/8, 13/8/2018, Lê Khắc C đã ba lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt dây cáp viễn thông của Tập đoàn b u chính viễn thông Việt Nam. Cụ thể:
+ Ngày 11/8/2018 chiếm đoạt 70m có giá trị là 4.312.000 đ ng (trong đó 30m chiếm đoạt vào sáng 11/8/2018 có giá trị là 1.848.000 đ ng; 40m chiếm đoạt vào chiều 11/8/2018 là 2.464.000 đ ng);
+ Ngày 12/8/2018 chiếm đoạt 90m có giá trị là 5.544.000 đ ng (trong đó 60m vào sáng 12/8/2018 là 3.696.000 đ ng; 30m vào chiều 12/8/2018 là 1.848.000 đ ng);
+ Ngày 13/8/2018 chiếm đoạt 40m có giá trị là 2.464.000 đ ng.
Tổng cộng cả ba lần C lén l t chiếm đoạt đ ợc 200m dây cáp, có giá trị là 12.320.000 đ ng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm c p tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của Tập đoàn b u chính viễn thông Việt Nam, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần phải xử l nghiêm nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo đã ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, mỗi lần đều có giá trị trên 2.000.000 đ ng. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 điều 52 BLHS.
Tuy nhiên, khi l ợng hình, Hội đ ng xét xử thấy rằng: bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi c tr rõ ràng. Quá trình điều tra, truy tố cũng nh tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã b i th ờng thiệt hại; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và hiện đang trực tiếp chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng đ ợc chính quyền địa ph ơng xác nhận. Vì vậy, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, cho bị cáo đ ợc h ởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS và áp dụng điều 36 BLHS xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt, cho bị cáo đ ợc cải tạo tại địa ph ơng cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, thể hiện tính khoan h ng của pháp luật.
Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình và bị cáo hiện đang phụng d ỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng cao tuổi (đã đ ợc chính quyền địa ph ơng xác nhận), nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
[3]. Đối với ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị A: trong quá trình mua bán lõi dây đ ng, Ngô Thị A không biết đây là tài sản do bị cáo C trộm cắp mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã b i th ờng toàn bộ thiệt hại là 14.000.000 đ ng. Tại phiên tòa hôm nay, ng ời đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[5]. Về vật chứng: HĐXX thấy rằng:
- Các vật chứng g m: 01 cái bao làm bằng chất liệu Polime (loại bao dùng đựng phân bón), 01 cái kìm cắt cầm tay; 01 dây l ng, đai an toàn (loại 01 móc khóa); 04 cái bu long làm bằng kim loại; 01 sợi dây làm bằng cao su màu đen dài 2 mét có móc bằng kim loại dài 06cm. Đây là công cụ phạm tội, nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
- Vật chứng g m: 02 Kg g m nhiều mãnh kim loại màu trắng, không rõ hình dạng, trên các mãnh kim loại đó có dính chất cháy màu đen; 158,2m dây cáp làm bằng kim loại, màu xám, trên bề mặt sợi dây có dính chất dầu mỡ và nhựa cháy màu đen; 01 dây cáp loại 50 đôi, dài 36cm x 0,5cm gắn vào một bách bằng kim loại có kích th ớc 14cm x 04cm đặt ở gi a là một ốc bu long có hai con vít đ ợc gắn kiên cố; 01 vỏ dây cáp loại 50 đôi, dài 1,1m x 0,05m (Không có lõi bên trong) gắn vào một bách bằng kim loại có kích th ớc 14cm x 04cm đặt ở gi a là một ốc bu long có hai con vít đ ợc gắn kiên cố. Đây là các vật chứng không có giá trị và không sử dụng đ ợc. Cần áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
- Vật chứng g m: 7,4 kg sợi dây làm bằng kim loại đ ng, là tài sản do phạm tội mà có. Cần áp dụng điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu, nộp ngân sách Nhà n ớc.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 36 BLHS:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Khắc phạm tội: “Trộm c p tài sản”.
2. Xử phạt:
Bị cáo Lê Khắc : 09 (chín) tháng cải tạo không giam gi , thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam gi tính từ ngày cơ quan, tổ chức đ ợc giao giám sát, giáo dục ng ời bị kết án nhận đ ợc quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Lê Khắc C trong thời gian chấp hành hình phạt.
Giao bị cáo Lê Khắc C cho U ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục. Gia đình ng ời bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa ph ơng trong việc giám sát, giáo dục ng ời đó.
3. Về vật chứng:
- Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cái bao làm bằng chất liệu Polime, trên bao có in dòng ch : ĐẦU TRÂU ĐÓN ĐÕNG NUÔI CỦ-QUẢ. MT (Loại bao đựng phân bón 25Kg) màu: xanh, đỏ, vàng, trắng;
+ 01 (một) cái Kìm cắt cầm tay, nhãn hiệu: C-MART B0016-06, dài 16cm, phần l ỡi làm bằng kim loại màu trắng dài 06cm, phần cán bọc chất liệu cao su màu xanh - bạc dài 10cm;
+ 01 (một) dây l ng, đai an toàn (loại 01 móc khóa) làm bằng chất liệu dù, màu: Vàng;
+ 04 (bốn) cái bu long làm bằng kim loại, màu: Bạc, dài 22cm, một đầu là Ecu có hình lục giác và đầu còn lại có ren hình xoáy ốc, đ ờng kính 01cm;
+ 01 (một) sợi dây làm bằng cao su màu đen diện 02m x 01cm x 0,2cm, một đầu có gắn móc bằng kim loại dài 06cm
- Áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy:
+ 02 kg (hai kilôgam) g m nhiều mảnh kim loại màu trắng, không rõ hình dạng, trên các mảnh kim loại đó có dính chất cháy màu đen;
+ 158,2m (một trăm năm m ơi tám phẩy hai mét) dây cáp làm bằng kim loại, màu: Xám; đ ờng kính 0,35mm. Trên bề mặt sợi dây cáp có dính chất dầu mỡ và nhựa cháy màu đen;
+ 01 (một) dây cáp loại 50 đôi, dài 36cm x 0,5cm gắn vào một bách bằng kim loại có kích th ớc 14cm x 04cm đặt ở gi a là một ốc bu long có hai con vít đ ợc gắn kiên cố;
+ 01 (một) vỏ dây cáp loại 50 đôi, dài 1,1m x 0,05m (không có lõi bên trong) gắn vào một bách bằng kim loại có kích th ớc 14cm x 04cm đặt ở gi a là một ốc bu long có hai con vít đ ợc gắn kiên cố.
- Áp dụng điểm b khoản 2 điều 106 BLTTHS, tịch thu, nộp ngân sách nhà n ớc: 7,4 kg (bảy phẩy bốn kilôgam) sợi dây làm bằng kim loại đ ng.
(Các vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/12/2018)
4. Về án phí: Áp dụng điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội:
Bị cáo Lê Khắc C phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ng ời đại diện hợp pháp của bị hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn m ời lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Ng ời tham gia tố tụng; - THADS huyện H; - L u h sơ, l u tập án. | TM. H ĐỒN ÉT Ử SƠ THẨM Thẩm phán - hủ toạ phiên toà Phan Thị Mão |