- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thị Giang - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị G phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:01/2019/HS-ST Ngày 02 tháng 01 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP, TỈNH Đ LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Điếp
Ông Phạm Văn Mạc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 01 năm 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Ea Súp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thị G, sinh năm: 1964 tại tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú: Thôn X, thị trấn E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Đặng Văn N và con bà Đỗ Thị V (Bố mẹ đều đã chết); Bị cáo có chồng là Trịnh Công S (Đã ly hôn) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 47 ngày 19/10/2018 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp (Bị cáo cáo mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Hán Duy T, sinh năm 1986 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
Những người làm chứng:
1. Chị Hán Thị T1, sinh năm 1975 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Thôn P , xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
2. Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1976 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Thôn Y, thị trấn E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 04/7/2018 anh Hán Duy T điều khiển xe ô tô biển số 48C – 019.21 chở theo chị Hán Thị T1 và chị Đoàn Thị H đi từ huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đến nhà anh Đặng Văn P ở thôn X, thị trấn E để mua mủ cao su. Do có nhu cầu bán mủ cao su nên Đặng Thị G đến hỏi chị T1 xem có mua hay không, chị T1 đồng ý nên đi đến lô cao su của G, sau khi xem mủ chị T1 hỏi G nói đại ý là mủ cao su của G có trộn bột đá hay không, nghe vậy G bực tức không bán mủ cao su cho chị T1 và đi về nhà. Khi mua mủ cao su của anh Phòng xong anh T điều khiển ô tô chở chị T1 và chị H đi về khi qua cửa nhà G thì G chạy ra chặn xe nên anh T cho xe dừng lại lúc này giữa Gvà chị T1 xảy ra xô xát. Được anh T và chị H can ngăn nên chị T1 lên ca bin ngồi, G gọi nhưng chị T1 không xuống, bực tức nên G nhặt 01 cục đá ném một phát trúng vào kính chắn gió phía trước xe ô tô làm rạn nứt.
Tại kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐG ngày 02/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản tỉnh Đắk Lắk kết luận: Giá trị của 01 kính chắn gió phía trước của xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, rộng 1,8 mét, cao 0,7 mét đã qua sử dụng trị giá 8.550.000 đồng
Trong quá trình điều tra giữa bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền 8.550.000đ và người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản Cáo trạng số: 53/KSĐT - HS ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đúng như trong quá trình điều tra, nội dung bản Cáo trạng và nội dung tóm tắt đã nêu trên.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo tại bản cáo trạng. Đồng thời đưa ra các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Thị G phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Thị G: 06 đến 09 tháng tù thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
Về vật chứng vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E không truy tìm được nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo G cho bị hại số tiền 8.550.000 đồng và người bị hại không ai yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo trình bày ý kiến tranh luận: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại và người hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng huân, huy chương, gia đình bị cáo có hoàn cảnh neo đơn đã ly hôn chồng, sống cùng con và bị cáo là lao động chính trong gia đình vì vậy bị cáo nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là quá nghiêm khắc bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện sản xuất nuôi dạy con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đặng Thị G tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, nên vào khoảng 15 giờ ngày 04/7/2018 do mâu thuẫn với chị Hán Thị T1 nên bị cáo Đặng Thị G đã dùng đá ném vào kính chắn gió phía trước xe ô tô của anh Hán Duy T làm rạn nứt kính gây thiệt hại số tiền 8.550.000 đồng.
Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Điều 178 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an trong khu vực nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần có một hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo thành người công dân tốt.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân bị cáo:
Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Bị cáo có mẹ đẻ là Đỗ Thị V là người có công với cách mạng được tặng huy chương kháng chiến, bị cáo có có hoàn cảnh gia đình neo đơn đã ly hôn chồng hiện đang là lao động chính trong gia đình. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ để răn đe giáo dục bị cáo.
Xét đề nghị của Đại diện VKS nhân dân huyện E về tội danh về các biện pháp tư pháp là phù hợp cần chấp nhận tuy nhiên về hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù là có phần nghiêm khắc Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ răn re và giáo dục đối với bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thị G phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về Điều luật và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; Các điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đặng Thị G: 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Đặng Thị G cho UBND thị trấn E, huyện S, tỉnh Đắk Lắk, giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
3. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
+ Về xử lý vật chứng: Không truy tìm được nên không đề cập giải quyết
+ Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để giải quyết.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Đặng Thị G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Đắk lắk; - VKS huyện E; - Công an huyện E; - Chi cục THADS huyện E; - UBND thị trấn E - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thông |