- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Phương T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn PhƣơngT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/HS-ST Ngày 16-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mạc Thị Chiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Thành
Bà Trƣơng Ngọc Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu
Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN PHƢƠNG T, tên gọi khác: Lục Sen, sinh năm 1987, tại Đồng Nai. Nơi cƣ trú: Ấp TT, thị trấn BN, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1961 (Còn sống) và bà Phạm Thị Bích N, sinh năm 1958 (Còn sống); anh chị em ruột: có 01 ngƣời; tiền án: Không, tiền sự: Không có; nhân thân bị cáo: Ngày 04/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 03/02/2016 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, hiện đã đƣợc xóa án tích; bị cáo đang bị tạm giam.
- Bị hại: Huỳnh Văn Hiệp, địa chỉ: Ấp 2A, thị trấn BN, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang – (vắng mặt)
Nguyễn Thị N1, địa chỉ: Ấp Nhơn Thuận 1A, xã NN A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang –(vắng mặt)
Nguyễn Sơn K, địa chỉ: Ấp Phú Yên, xã TP, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh L – (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trần Văn Ngoan, địa chỉ: Ấp 4A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang –(vắng mặt)
Bùi Phi L, địa chỉ: 66/49, Nguyễn Văn Cừ, phƣờng AH, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ – (vắng mặt)
Quách C, địa chỉ: Ấp TT, thị trấn BN, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang – (vắng mặt) Ngƣời làm chứng: Đoàn Thanh Hùng, địa chỉ: Ấp 4A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang – (vắng mặt)
Nguyễn Thị Kim Loan, địa chỉ: Ấp 4A, xã Tân Hòa, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang –(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 06/7/2018, bị cáo Nguyễn PhƣơngT đi ngang quán cơm của ông Đoàn Thanh Hùng phát hiện trƣớc cửa quán cơm có 01 máy cƣa cây nhãn hiệu KAVI G750 màu đỏ đen của ông Huỳnh Văn Hiệp để phía sau yên xe đạp. Quan sát thấy không có ai trông coi,T đi đến lấy máy cƣa rồi đi bộ về hƣớng cầu 4000, lúc này bà Nguyễn Thị Kim Loan (ngụ cùng ấp với ông Hùng) nhìn thấyT đang ôm máy cƣa bỏ đi nên tri hô “ăn trộm, ăn trộm”, thấy vậy ông Hùng và ông Hiệp chạy đuổi theoT, khi đến cầu 4000 thìT bỏ máy cƣa lại và chạy thoát. Sau đó, ông Hiệp đến Công an xã Tân Hòa trình báo sự việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/KL.DDGTS ngày 06/8/2018 của Hội đồng thẩm định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành A đã kết luận: 01 máy cƣa nhãn hiệu KAVI G750 màu đỏ đen có giá trị là 2.940.000 đồng (Hai triệu chín trăm bốn mƣơi ngàn đồng).
Quá trình điều tra bị cáo còn khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 24/7/2018, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 65P4-5236 chở Trần Văn Ngoan đi trên đoạn Quốc lộ 61C hƣớng từ Cần Thơ về Vị Thanh, khi qua cầu Trầu Hôi (thuộc ấp Nhơn Thuận 1A, xã NN A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) thì Ngoan thấy cặp bên đƣờng có 01 khung kim loại (gồm 03 khúc nối với nhau) nên kêuT dừng lại lấy đem lên xe. Sau đó, lấy thêm 01 chân dù bằng kim loại của bà Nguyễn Thị N1 thì bị lực lƣợng Công an huyện Châu Thành A đang làm nhiệm vụ phát hiện,T và Ngoan bỏ chạy để lại xe mô tô biển số kiểm soát 65P-5236 cùng với 01 khung kim loại và 01 chân dù kim loại và bỏ chạy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 74/KL.ĐG ngày 15/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành A đã định giá: 01 chân dù bằng kim loại, trọng lƣợng 12kg; 01 khung kim loại gồm 03 đoạn, trọng lƣợng 3,2kg có tổng giá trị là 60.800 đồng (Sáu mƣơi ngàn tám trăm đồng);
Ngày 25/7/2018,T và Ngoan đi từ huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đến thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày,T và Ngoan đi bộ dọc theo Quốc lộ 1 hƣớng về Cần Thơ. Khi đến đoạn ấp Phú An, xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh L,T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI HAYATE, biển số kiểm soát 64E1-051.34 của anh Nguyễn Sơn K đậu cặp lề lộ còn gắn chìa khóa xe,T rủ Ngoan trộm xe nhƣng Ngoan không đồng ý nênT thực hiện một mình.T đi đến chỗ chiếc xe và mở chìa khóa điều khiển xe chạy đến nhà anh Bùi Phi L và gửi tại đây, sau đó bỏ đi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 142/KL.ĐGTS ngày 07/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình đã định giá: 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI HAYATE, biển số kiểm soát 64E1-051.34 có giá trị là 5.800.000 đồng (Năm triệu tám trăm ngàn đồng).
Tại Cáo trạng số 02/CT-VKS-HCTA ngày 05 tháng 12 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố bị cáoT về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn PhƣơngT về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn PhƣơngT phạm tội "Trộm cắp tài sản", đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn PhƣơngT từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự, các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáoT bồi thƣờng. Đồng thời yêu cầu xử phạt bị cáo theo quy định pháp luật.
Vật chứng trong vụ án gồm có:
- 01 máy cƣa cây nhãn hiệu KAVI G750 màu đỏ đen.
- 01 chân dù bằng kim loại, trọng lƣợng 12kg đ;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI HAYATE, biển số kiểm soát 64E1-
051.34.
Quá trình điều tra, cơ quan công an đã xử lý, bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu các vật chứng nêu trên. Đối với 01 khung kim loại gồm 03 đoạn, trọng lƣợng 3,2kg không có giá trị đề nghị tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A, việc truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đƣợc thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố hình sự. Tại phiên tòa, vắng mặt các bị hại Huỳnh Văn Hiệp, Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Sơn K và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Văn L, Trần Văn Ngoan, Quách C tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của những ngƣời bị hại và những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bản thân họ đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm trong vụ án, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hƣởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xét xử vắng mặt đối với những bị hại và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung giải quyết vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn PhƣơngT đều thừa nhận hành vi bị cáo đã thực hiện. Đối chiếu lời thừa nhận của bị cáo với lời khai của những ngƣời bị hại, lời khai của những ngƣời làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án là phù hợp, chứng minh đƣợc nhƣ sau:
Lần 1: Vào khoảng 11 giờ 10 phút ngày 06/7/2018, bị cáo Nguyễn PhƣơngT đi ngang quán cơm của ông Đoàn Thanh Hùng phát hiện trƣớc cửa quán cơm có 01 máy cƣa cây nhãn hiệu KAVI G750 màu đỏ đen của ông Huỳnh Văn Hiệp để phía sau yên xe đạp. Quan sát thấy không có ai trông coi,T đi đến lấy máy cƣa rồi đi bộ về hƣớng cầu 4000, nhƣng bị phát hiện và bị truy đuổi đến cầu 4000 thìT bỏ máy cƣa lại và chạy thoát. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 50/KL.DDGTS ngày 06/8/2018 của Hội đồng thẩm định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành A đã định giá 01 máy cƣa nhãn hiệu KAVI G750 màu đỏ đen có giá trị là 2.940.000 đồng (Hai triệu chín trăm bốn mƣơi ngàn đồng).
Lần 2: Vào khoảng 23 giờ ngày 24/7/2018, bị cáoT điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 65P4-5236 chở Trần Văn Ngoan đi trên đoạn Quốc lộ 61C hƣớng từ Cần Thơ về Vị Thanh, khi qua cầu Trầu Hôi (thuộc ấp Nhơn Thuận 1A, xã NN A, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) một đoạn thì Ngoan thấy cặp bên đƣờng có 01 khung kim loại (gồm 03 khúc nối với nhau) nên kêuT dừng lại lấy đem lên xe. Sau đó, lấy thêm 01 chân dù bằng kim loại của bà Nguyễn Thị N1 thì bị lực lƣợng Công an huyện Châu Thành A đang làm nhiệm vụ phát hiện,T và Ngoan bỏ chạy để lại xe mô tô biển số kiểm soát 65P-5236 cùng với 01 khung kim loại và 01 chân dù kim loại và bỏ chạy.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 74/KL.ĐG ngày 15/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành A đã định giá 01 chân dù bằng kim loại, trọng lƣợng 12kg; 01 khung kim loại gồm 03 đoạn, trọng lƣợng 3,2kg có tổng giá trị là 60.800 đồng (Sáu mƣơi ngàn tám trăm đồng).
Lần 3: Khoảng 07 giờ ngày 25/7/2018,T và Ngoan đi từ huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đến thành phố Vĩnh L, tỉnh Vĩnh L mua ma túy để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày,T và Ngoan đi bộ dọc theo Quốc lộ 1 hƣớng về Cần Thơ. Khi đến đoạn ấp Phú An, xã Phú Thịnh, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh L,T phát hiện xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI HAYATE, biển số kiểm soát 64E1-051.34 của anh Nguyễn Sơn K đậu cặp lề lộ còn gắn chìa khóa xe,T rủ Ngoan trộm xe nhƣng Ngoan không đồng ý nênT thực hiện một mình.T đi đến chỗ chiếc xe và mở khóa điều khiển xe chạy đến nhà anh Bùi Phi L và gửi xe tại đây, sau đó bỏ đi.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 142/KL.ĐGTS ngày 07/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tam Bình đã định giá 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI HAYATE, biển số kiểm soát 64E1-051.34 có giá trị là 5.800.000 đồng (Năm triệu tám trăm ngàn đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáoT là ngƣời có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản bị cáo đã lén lút lấy tài sản của những ngƣời này. Bị cáo biết rõ hành vi của bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngƣời khác nhƣng vẫn cố ý thực hiện và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Do vậy các hành vi của bị cáo đã dủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ngƣời khác, đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo làm mất an ninh trật tự tại địa phƣơng, khiến cho ngƣời dân hoang mang, lo lắng. Bị cáo từng bị xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt, đã đƣợc xóa án tích nhƣng không biết cải tạo mà còn phạm tội mới. Điều này cho thấy tính xem thƣờng pháp luật của bị cáo, vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên hai lần trong vòng một tháng, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tích cực tìm lại tài sản giao trả cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Vì vậy, Hội đồng xét xử khi lƣợng hình cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thƣờng nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng trong vụ án: Vật chứng bị thu giữ trong vụ án đã đƣợc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A xử lý trả lại cho các chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với 03 đoạn kim loại do chƣa xác định đƣợc chủ sở hữu, mặt khác đây là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Trần Văn Ngoan chƣa đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, ngày 07 tháng 11năm 2018, Công an huyện Châu Thành A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên của Ngoan nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về hành vi chứa chấp tài sản do phạm tội mà có của Bùi Phi L, trong quá trình điều tra đã xác định đƣợc Bùi Phi L không biết tài sản mà bị cáoT gửi là tài sản trộm cắp nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Phi L là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáoT phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn PhƣơngT phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Xử phạt bị cáo Nguyễn PhƣơngT 1 năm 6 tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05 tháng 10 năm 2018. Tiếp tục giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 16/01/2019 để đảm bảo việc thi hành án
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Đều 46 Bộ luật hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy 03 đoạn kim loại không còn giá trị sử dụng.
3. Về trách nhiệm dân sự: Các đƣơng sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Nguyễn PhƣơngT phải nộp 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ngƣời bị hại Huỳnh Văn Hiệp, Nguyễn Thị N1 và Nguyễn Sơn K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bẳn án đƣợc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, những ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Phi L, Trần Văn Ngoan, Quách C có quyền kháng cáo phần bản án liên quan tới quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án; hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Châu Thành A; - Sở tƣ pháp tỉnh Hậu Giang; - Chi cục THADS huyện Châu Thành A; - Công an huyện Châu Thành A; - Những ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu hồ sơ vụ án. | Mạc Thị Chiên |