vanban.org

Bản án 01/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Tuyªn xö: Kh«ng c«ng nhËn ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị X lµ vî chång.

Về con chung: Ông T và bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về Tài sản chung, nợ phải trả: Ông T và bà X xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Xuân Tuyên - Nguyễn Thị Xuyến"
  • Tòa quyết gì? 1 Tuyªn xö: Kh«ng c«ng nhËn ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị X lµ vî chång.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật tố tụng dân sự ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị Xcó quyền kháng cáo bản án trong; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị Xcó quyền kháng cáo bản án trong
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 01/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 05-3-2019
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thƣơng Huyền Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Đôn 2. Bà Đoàn Thị Quế

- Thư ký phiên toà: Bà Quàng Thị Thu – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2018/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXX

- ST ngày 12 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Xuân T - Sinh năm: 1971 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố 11, phường N B, thành phố Đ B Ph, tỉnh Đ.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X - Sinh năm 1973 (Có mặt).

Địa chỉ: Tổ dân phố 11, phường N B, thành phố Đ B Ph, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03/12/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn ông Đỗ Xuân T trình bày:

* Về hôn nhân: Tôi và bà Nguyễn Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại phường Sông Đà thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu vào năm 1990 (Nay thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên). Hiện nay tôi đã đánh mất đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc được một thời gian. Nguyên nhân dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống là do bà X hay cờ bạc, làm thất thoát tài sản dẫn đến nợ nần, tôi đã cho bà X cơ hội để sửa chữa và tu trí làm ăn nhưng bà X vẫn không sửa chữa được và hiện chúng tôi đang sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Vì vậy tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với bà X.

* Về con chung: Ông Đỗ Xuân T khai vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Xuân T

- sinh ngày 26/02/1991 và Đỗ Xuân G- sinh ngày 14/10/1997; Nay các cháu đã trưởng thành và khỏe mạnh phát triển bình thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về tài sản: Ông T xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về nợ chung: Ông T xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 11 tháng 12 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị X trình bày:

Tôi và ông Đỗ Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc và có đăng ký kết hôn tại phường Sông Đà thị xã Lai Châu, tỉnh Lai Châu vào năm 1990 (Nay thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên). Chúng tôi đánh mất đăng ký kết hôn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, quan điểm sống bất đồng về mọi mặt, hiện nay hai vợ chồng chúng tôi đang sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và có níu kéo cuộc sông hôn nhân không có hạnh phúc, nên tôi đề nghị Tòa án công nhận ly hôn cho tôi và ông T.

Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là cháu Đỗ Xuân Tr- sinh ngày 26/02/1991; Đỗ Xuân G- sinh ngày 14/10/1997; Nay các cháu đã trưởng thành và khỏe mạnh phát triển bình thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Nợ phải trả: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về nợ lấy về: Không có.

Tại phiên tòa ông Đỗ Xuân T và Nguyễn Thị X vẫn giữ nguyên quan điểm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của ông T và bà X tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Vụ án Đỗ Xuân T và Nguyễn Thị X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị Xkhai ông bà lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 02/10/1990 tại thị xã Mường Lay, tỉnh Lai Châu cũ. Ông T và bà X không cung cấp được Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Ngày 21/01/2019 Ủy ban nhân dân phường Sông Đà, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên đã xác nhận sau khi kiểm tra không có tên của ông Đỗ Xuân T và bà Nguyễn Thị X trong sổ đăng ký kết hôn của phường Sông Đà, thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên từ năm 1990 cho đến tháng 9 năm 2010 ông T và bà X đã chung sống với nhau và có 02 con chung. Do vậy không có căn cứ ông T và bà X lấy nhau có đăng ký kết hôn. H«n nh©n cña ông T và bà X lµ h«n nh©n kh«ng hîp ph¸p. T¹i phiªn toµ, ông T và bà X vÉn gi÷ nguyªn yªu cÇu xin ly h«n vµ quyÕt t©m ®Ò nghÞ Toµ ¸n gi¶i quyÕt cho ông bà ® îc ly h«n. Héi ®ång xÐt xö xÐt thÊy ®Ó ®¶m b¶o quyÒn lîi cho ông T và bà X tránh khái t×nh tr¹ng hiÖn t¹i khi mµ h«n nh©n kh«ng thÓ tån t¹i, chÊp nhËn ®¬n xin ly h«n cña ông T, ¸p dông §iÒu 14; Điều 53 LuËt h«n nh©n và gia ®×nh xö kh«ng c«ng nhËn vî chång gi÷a ông Đỗ Xuân T và bà Nguyễn Thị X.

* Về con chung: Ông T và bà X đều khai và công nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Đỗ Xuân Tr- sinh ngày 26/02/1991; Đỗ Xuân G- sinh ngày 14/10/1997; Nay các cháu đã trưởng thành và khỏe mạnh phát triển bình thường, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.

* Về Tài sản chung, nợ phải trả: Ông T và bà X xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về nợ lấy về: Không có.

[

* Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Đỗ Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số AA/2016/0002092 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ; ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS; khoản 1 Điều 14; Điều 53 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh.

1 Tuyªn xö: Kh«ng c«ng nhËn ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị X lµ vî chång.

2. Về con chung: Ông T và bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về Tài sản chung, nợ phải trả: Ông T và bà X xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ lấy về: Không có.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Đỗ Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số AA/2016/0002092 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ; ông T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

6. Áp dụng các Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự ông Đỗ Xuân Tvà bà Nguyễn Thị Xcó quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án (05/3/2019)./. ơ

Cỡ chữ