vanban.org

Bản án 01/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ V được ly hôn anh Đinh Hòa N.

Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Uyên T, sinh ngày 07/5/2017 cho chị Đinh Thị Mỹ V trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Đinh Hòa N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ V được ly hôn anh Đinh Hòa N.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN HÀ
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/ HNGĐ - ST
Ngày: 11 - 6 - 2019
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HÀ, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Chí Ngãi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt;

Bà Đinh Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Anh Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2019/TLST-HNGĐ ngày 07/01/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐST- HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Mỹ V, sinh năm 1998.

2. Bị đơn: Anh Đinh Hòa N, sinh năm 1993.

Chỗ ở hiện nay: Xóm Gò Sim, thôn Hà Bắc, xã Sơn Hạ, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/12/2018 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ V trình bày:

Chị V

tự nguyện kết hôn và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 12/01/2017. Hiện giấy đăng ký kết hôn anh N đang giữ nên chị V chỉ cung cấp cho Toà án bản sao trích lục kết hôn.

Thời gian đầu mới kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh N thường xuyên đánh đập, xúc phạm danh dự chị và bỏ nhà ra đi không rõ nguyên nhân; nhiều lần chị đã khuyên bảo anh N về chung sống với gia đình để làm ăn nuôi con nhưng anh N không đồng ý và bỏ nhà đi. Hiện nay anh N đang sinh sống với mẹ đẻ tại xã Sơn Hạ, huyện Sơn Hà.

Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đinh Hòa N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đinh Thị Uyên T, sinh ngày 07/5/2017, hiện con đang ở với chị V tại tổ dân phố Làng Dầu, thị trấn Di Lăng, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cháu T, không yêu cầu anh Đinh Hòa N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ tài sản: Không có.

Tại bản tự khai ngày 10/01/2019, bị đơn anh Đinh Hòa N trình bày:

Về hôn nhân: Anh Đinh Hòa N thống nhất với lời khai của chị Đinh Thị Mỹ V về quá trình chung sống và thời gian đăng ký kết hôn;

Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian đầu mới kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, anh và chị V thường xuyên cải vã, bất đồng quan điểm sống, hai vợ chồng cảm thấy không hợp với nhau nữa nên anh đã bỏ về nhà mẹ đẻ sống tại thôn Hà Bắc, xã Sơn Hạ, huyện Sơn Hà.

Nay xét thấy tình cảm giữa anh và chị Vương vẫn còn, anh Nhẹ muốn chị Vương cho anh một cơ hội để hai vợ chồng về chung sống lại với nhau cùng lo chăm sóc cho con nhưng nếu chị V kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.

Về tài sản riêng, tài sản chung và nghĩa vụ tài sản: Không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ Vyêu cầu anh Đinh Hòa N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng tính từ tháng 6/2019 đến khi con đủ 18 tuổi.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh Đinh Hòa N nhưng anh N chỉ đến Tòa án một lần duy nhất vào ngày 10 tháng 01 năm 2019 để trình bày bản tự khai, sau đó, anh N vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà tham gia phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: nguyên đơn và bị đơn đều chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh N là quan hệ hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Sau thời gian sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn, chị V yêu cầu được ly hôn anh N là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Đinh Thị Mỹ V được ly hôn anh Đinh Hòa N. Áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Đinh Thị Uyên T, sinh ngày 07/5/2017 cho chị V trực tiếp chăm sóc, trông nôm, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Đinh Hòa N có nghĩa vụ cấp dưỡng cháu T mỗi tháng 1.000.000 đồng, tính từ khi tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ngày 07/01/2019, Tòa án thụ lý đơn khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu của nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ V đối với bị đơn anh Đinh Hòa N là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ V và anh Đinh Hòa N kết hôn và có đăng ký vào ngày 12/01/2017 tại Ủy ban nhân dân thị trần Di Lăng, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở tự nguyện, là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian đầu chị V và anh N sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh N thường xuyên đánh đập, xúc phạm danh dự chị và bỏ nhà ra đi không rõ nguyên nhân; nhiều lần chị đã khuyên bảo anh N về chung sống với gia đình để làm ăn, nuôi con nhưng anh N không đồng ý. Hiện nay anh N đang sinh sống nhà mẹ đẻ tại xã Sơn Hạ, huyện Sơn Hà, hai người không còn quan tâm đến nhau nữa, điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; mâu thuẫn giữa chị V và anh N cũng đã được chính quyền xác nhận là có thật, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh N cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc đích thực cho nhau nên yêu cầu ly hôn của chị V là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Về con chung: Vợ chồng chị Đinh Thị Mỹ V và anh Đinh Hòa N có 01 con chung tên Đinh Thị Uyên T; sinh ngày 07/5/2017. Vì cháu T dưới 36 tháng tuổi, thực tế cháu đang sống cùng với chị V, anh N không quan tâm, chăm sóc con. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Đinh Thị Uyên T, sinh ngày 07/5/2017 cho chị V tiếp tục chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, chị V yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đồng/tháng, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu của chị V là có căn cứ phù hợp với pháp luật nên chấp nhận, buộc anh Đinh Hòa N có nghĩa cấp dưỡng nuôi cháu Đinh Thị Uyên T mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hà về việc đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.

. Về tài sản chung, tài sản riêng và nghĩa vụ trả nợ: Nguyên đơn chị Đinh Thị Mỹ V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Đinh Thị Mỹ Vương phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng phần yêu cầu ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp, anh Đinh Hòa Nhẹ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm phần cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng là phù hợp Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Mỹ V được ly hôn anh Đinh Hòa N.

2. Về con chung: Giao cháu Đinh Thị Uyên T, sinh ngày 07/5/2017 cho chị Đinh Thị Mỹ V trực tiếp chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Đinh Hòa N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cơ quan tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị Mỹ V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2016/0000130 ngày 04/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Hà. Anh Đinh Hòa N phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong số tiền trên, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân nơi cư trú.

Cỡ chữ