- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn H-P"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Võ Mỹ H được ly hôn với chị Trần Kim P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 01 - 2019 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Hùng.
2. Ông Bùi Thanh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khánh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 345/2018/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2018/QĐXX-ST ngày 05 tháng 12 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 93/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Võ Mỹ H, sinh năm 1979; HKTT: ấp HMT, xã LHA, huyện LV, tỉnh ĐT; tạm trú: Ấp 5, xã HP, huyện NT, tỉnh ĐN.
Bị đơn: Chị Trần Kim P, sinh năm 1982; địa chỉ: HKTT: ấp HMT, xã LHA, huyện LV, tỉnh ĐT. Tạm trú tại: ấp HTĐ, xã LHB, huyện LV, tỉnh ĐT.
( Anh H có mặt, chị P vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/10/2018 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn anh Võ Mỹ H trình bày:
Về hôn nhân: Anh Võ Mỹ H và chị Trần Kim P tổ chức đám cưới vào năm 2002 và đăng ký kết hôn vào ngày 15/11/2006 tại Ủy ban nhân dân xã LHA, huyện LV, tỉnh ĐT trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh H và chị P chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẩn nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, cuộc sống hôn nhân không được hạnh phúc và từ năm 2012 chị P đã về nhà cha mẹ ruột của chị P tại ấp HTĐ, xã LHB, huyện LV, tỉnh ĐT sinh sống cho đến nay vợ chồng không hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh H yêu cầu ly hôn với chị Trần Kim P.
Về nuôi con chung: Quá trình chung sống anh H và chị P có 01 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 01/5/2006 con chung hiện đang sống với anh H, sau khi ly hôn anh H yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Không có, không yêu cầu giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 22 tháng 11 năm 2018, Trần Kim P trình bày:
Về hôn nhân: Chị thống nhất lời trình bày của anh Võ Mỹ H về thời gian vợ chồng tổ chức đám cưới, việc đăng ký kết hôn, thời gian vợ chồng sống chung, thời gian vợ chồng xa nhau cũng như nguyên nhân xảy ra mâu thuẩn. Nay anh H yêu cầu ly hôn thì chị P cũng đồng ý ly hôn theo như yêu cầu của anh H, không yêu cầu đoàn tụ.
Về con chung: Thống nhất quá trình chung sống chị P và anh H có 01 con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 01/5/2006 con chung hiện đang do anh H nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị P đồng ý giao con cho anh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và về cấp dưỡng thì chị có bao nhiêu chị sẽ phụ với anh H nuôi con bấy nhiêu chứ chị không đưa được số tiền cụ thể.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị P khẳng định chị sẽ không đến Toà án để tham dự phiên hoà giải cũng như tham gia phiên toà.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng như Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà. Riêng bị đơn đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án cũng đã triệu tập bị đơn hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên toà nhưng bị đơn vẫn vắng mặt mà không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Anh Võ Mỹ H trình bày anh và chị Trần Kim P tổ chức đám cưới vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã LHA, huyện LV, tỉnh ĐT vào ngày 15 tháng 11 năm 2006 đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh H và chị P là hợp pháp. Trong thời gian chung sống anh H và chị P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã xa nhau từ năm 2012 cho đến nay không hàn gắn đoàn tụ được. Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/11/2018 chị P cũng đồng ý ly hôn với anh H, không yêu cầu đoàn tụ. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh H và chị P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.
Về con chung: Từ khi anh H và chị P sống xa nhau con chung do anh H nuôi dưỡng đã ổn định và anh H có yêu cầu tiếp tục được trực tiếp nuôi con và chị P cũng đồng ý giao con chung cho anh H được tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung Võ Minh T, sinh ngày 01/5/2006 cho anh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm sát viên, Toà án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Võ Mỹ H yêu cầu được ly hôn với chị Trần Kim P và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con sau khi ly hôn”. Bị đơn chị Trần Kim P có hộ khẩu và cư trú tại huyện LV, tỉnh ĐT do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn chị Trần Kim P đã được Toà án tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai nhưng chị P cũng không đến Toà án để hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Toà án đã triệu tập hợp lệ chị P đến phiên toà lần thứ hai nhưng chị P vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị P.
Về hôn nhân: Anh Võ Mỹ H và chị Trần Kim P tổ chức đám cưới vào năm 2002 và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã LHA, huyện LV, tỉnh ĐT vào ngày 15 tháng 11 năm 2006 đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh H và chị P là hợp pháp. Trong thời gian chung sống anh H và chị P đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã xa nhau từ năm 2012 cho đến nay không hàn gắn đoàn tụ được. Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/11/2018 chị P cũng đồng ý ly hôn với anh H, không yêu cầu đoàn tụ. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa anh H và chị P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H.
Về con chung: Anh H và chị P đều thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên Võ Minh T sinh ngày 01/5/2006 hiện đang sống với anh H. Sau khi ly hôn anh H yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy từ khi anh H và chị P sống xa nhau, con chung do anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đã ổn định và chị P cũng đồng ý giao con cho anh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, cháu T cũng có nguyện vọng được sống với cha. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung cho anh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh H và chị P đều thống nhất không yêu cầu toà án giải quyết nên Toà án không xem xét giải quyết.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò là có căn cứ và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Võ Mỹ H phải chịu án phí sơ là 300.000đ theo quy định tại khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Trần Kim P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1, Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Anh Võ Mỹ H được ly hôn với chị Trần Kim P.
2. Về con chung: Giao con chung tên con chung tên Võ Minh T, sinh ngày 01/5/2006 cho anh Võ Mỹ H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do anh H không yêu cầu nên không xem xét.
Sau khi ly hôn chị Trần Kim P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, anh Võ Mỹ H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở và chị Trần Kim P không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con của anh Võ Mỹ H.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Võ Mỹ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp theo biên lai số 0003173 ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
6. Anh Võ Mỹ H được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Trần Kim P được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đươc niêm yết.
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a , 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND H.Lấp Vò; - Chi cục THADS H.Lấp Vò; - UBND xã LHA, H.LV; - Lưu: VP- Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký và đóng dấu) Phan Văn Nội |