vanban.org

Bản án 01/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu S được ly hôn với anh Nguyễn Văn TR. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Th (sinh ngày 15/4/2015) cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị S không yêu cầu anh T…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH KHÁNH HÒA
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 01 năm 2019
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thành

bà Bùi Thị Huê

- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện D - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: ông Huỳnh Tấn Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 384/2018/TLST-HNGĐ ngày 20/9/2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/12/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu S - sinh năm 1993

Trú tại: thôn N - T - D - Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Văn TR - sinh năm 1988

Trú tại: thôn Đ3 - Đ - D - Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11/9/2018 và bản tự khai ngày 01/10/2018 tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu S trình bày: chị và anh Nguyễn Văn TR tự nguyện yêu thương nhau về sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ năm 2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp thường hay cãi vã, anh TR thường xuyên cờ bạc. Từ tháng 9/2017, chị và anh TR đã không còn sống chung với nhau. Đến nay, chị xác định không còn tình cảm với anh TR nên chị xin được ly hôn với anh TR. Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Văn Th (sinh ngày 15/4/2015). Sau khi ly hôn, chị trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh TR cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: không có. Anh TR đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị S vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh TR; được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh TR cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn anh TR vắng mặt lần thứ 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - Khánh Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự trong vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 70 và 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Anh TR đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh TR. [2] Quan hệ hôn nhân: chị S và anh TR sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ theo giấy chứng nhận kết hôn số 64/2014 ngày 28/8/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị S cho rằng quá trình sống chung, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã làm gia đình không hạnh phúc do anh TR thường xuyên cờ bạc. Chị có khuyên can nhưng anh TR không thay đổi. Anh TR đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ anh TR đã không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh và chị S. Do đó, có thể xác định tình cảm yêu thương vợ chồng giữa chị S và anh TR đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S. [3] Con chung: chị S, anh TR có một con chung là Nguyễn Văn Th (sinh ngày 15/4/2015). Chị S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị S xác định chị làm công nhân, lương ổn định có khả năng nuôi dưỡng cháu Thành nên không yêu cầu anh TR cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, để ổn định cuộc sống của con chung, cần tiếp tục giao con cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng. [4] Tài sản chung và nợ chung: không có. [5] Về án phí: chị S nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu S được ly hôn với anh Nguyễn Văn TR.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Văn Th (sinh ngày 15/4/2015) cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị S không yêu cầu anh TR cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh TR có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị S, anh TR đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung và nợ chung: không có.

Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu S nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0019045 ngày 20/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện D - Khánh Hòa. Chị S đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ