vanban.org

Bản án 01/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 01/03/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Huỷ bản án sơ thẩm số: 25/2018/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Chuyể n hồ sơ vụ á n cho Toà á n nhân dân huyệ n Đắ k Song giả i quyế t lạ i vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoả n 3 Điề u 148 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự : Anh Đà o Tấ t T không phả i chị u á n phí dân sự phú c thẩ m . Hoàn trả cho anh T 300.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị M kiện anh Đào Tất T chia tài sản sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Huỷ bản án sơ thẩm số: 25/2018/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2019/HNGĐ-PT
Ngày 01-3-2019
Về việ c: Chia tà i sả n chung sau ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Cảnh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thuyên

Bà Bùi Thị Ngọc

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Thanh Hoà – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đì nh thụ lý số: 18/2018/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2018 về “Chia tà i sả n chung sau ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đì nh sơ thẩm số: 25/2018/HNGĐ-ST, ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2019/QĐ-PT ngày 30-01-2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M – Có mặt.

Đị a chỉ: Thôn 6, xã V, huyệ n K, tỉnh Đắk Lắk

Ngườ i đạ i diệ n theo uỷ quyề n củ a nguyên đơn chị Nguyễ n Thị M: Bà Bùi Thị D – Văn bả n uỷ quyề n ngày 28/4/2017 – Có mặt.

Đị a chỉ : Tổ 6, phườ ng N, thị xã G, tỉnh Đắk Nông

Bị đơn: Anh Đà o Tấ t T – Có mặt.

Đị a chỉ: Bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông

Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan : Bà Phạm Thị Â và ông Nguyễn Đì nh T – Có mặt.

Đị a chỉ : Tổ 3, phườ ng N1, thị xã G, tỉnh Đắk Nông

Người kháng cáo: Bị đơn anh Đào Tất T

NỘ I DUNG VỤ Á N:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án , nguyên đơn chị Nguyễ n Thị M (Chị M) trình bày: Chị và anh Đ ào Tất T (Anh T) chung số ng vớ i nhau như vợ chồng từ năm 2009, đến năm 2013 mớ i đăng ký kế t hôn tạ i Uỷ ban nhân dân xã T , huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông. Năm 2016 chị M và anh T ly hôn theo Bả n á n số : 04/2016/HNGĐ-ST ngà y 01-4-2016 của Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông, quá trình giải quyết ly hôn chị M và anh T có nguyện vọng được tự thoả thuận về chia tài sản chung, không yêu cầ u Toà á n giả i quyế t. Do hiệ n nay hai bên vẫ n không thoả thuậ n đượ c về việ c chia tà i sả n chung nên ngày 13-02-2017, chị M đã là m đơn khở i kiệ n yêu cầ u Toà á n giả i quyế t chia tà i sản chung của chị M và anh T, bao gồ m cá c tà i sả n sau:

Đối với thử a đấ t số 13 tờ bả n đồ số 63, diệ n tí ch 660m2, toạ lạc tại bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông, chưa đượ c cấ p Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t (Viế t tắ t là GCNQSDĐ): Chị M yêu cầu được chia ½ thửa đất.

Đối với thử a đấ t số 11 và 13 tờ bả n đồ số 53, diệ n tí ch 10.378m2 toạ lạc tại bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông , chưa đượ c cấ p GCNQSDĐ thì chị Mai không yêu cầ u chia quyề n sử dụ ng đấ t nhưng yêu cầ u đượ c nhậ n ½ giá trị tà i sản, cây trồ ng gắ n liề n vớ i thử a đấ t số 11, 13 nêu trên.

Bị đơn anh Đà o Tấ t T trình bày: Anh đồ ng ý vớ i ý kiế n củ a chị M về việ c kế t hôn và ly hôn . Đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị M thì anh T có ý kiế n như sau:

Đối với thửa đất số 13 tờ bả n đồ số 63, diệ n tí ch 660m2, toạ lạc tạ i bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông thì anh Thành không đồng ý chia cho chị M do đây là tài sản riêng của anh T, nguồ n gố c do anh T nhậ n chuyể n nhượ ng củ a ông Đà o Xuân T, bà Lê Thị T vào năm 2010 – 2011 bằ ng tiề n riêng, thờ i điể m nà y chưa kế t hôn vớ i chị M và chị M đang là m công nhân ở Sà i Gò n.

Đối với yêu cầu được nhận ½ giá trị tài sản , cây trồ ng gắ n liề n vớ i thử a đấ t số 11 và 13, tờ bản đồ số 53, diệ n tí ch 10.378m2, toạ lạc tại bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông: Anh T không đồ ng ý chia cho chị M do thử a đấ t trên là củ a gì dượng là bà Phạm Thị Â, ông Nguyễ n Đì nh T cho anh T mượ n để canh tá c , anh T đã trả lạ i thử a đấ t cho ông Nguyễ n Đì nh T, bà Phạm Thị Â . Tài sản, cây trồ ng trên đấ t cũ ng là củ a Nguyễ n Đì nh T, bà Phạm Thị Â.

Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Â , ông Nguyễ n Đì nh T trì nh bà y : Năm 2008 ông bà có nhậ n chuyể n nhượ ng diệ n tí ch đấ t khoảng 03ha tạ i bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông của ông Bùi Quang H, bà Nguyễ n Thị X . Đế n năm 2009 ông Nguyễ n Đì nh T , bà Phạm Thị Â cho anh T mượ n 01ha đấ t nêu trên để canh tá c , thờ i điể m canh tá c trên đấ t đã có khoả ng 900 cây cà phê, đến năm 2015 thì có trồng thêm khoảng 400 trụ tiêu. Việ c canh tác, trồ ng cây là do ông bà đầu tư cho anh T . Đế n năm 2015 do vợ chồ ng anh T chị M mâu thuẫn nên ông bà đã lấy lại diện tích đất cho mượn và hiện tại ông bà đang sử dụ ng đấ t. Đối với yêu cầu của chị M được nhận ½ giá trị tài sản và cây trồ ng trên đấ t thì ông bà không đồng ý vì đây là tà i sả n củ a ông bà .

Tại bản án số : 25/2018/HNGĐ-ST ngà y 10-10-2018 của Toà án nhân dân huyệ n Đắk Song đã: Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điề u 28; khoản 1 Điề u 35; khoản 1 Điề u 39; Điề u 143; Điề u 147; Điề u 244; Điề u 264, Điề u 267; Điề u 271; Điề u 273 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự ; áp dụng Điều 29; Điề u 33; Điề u 37; Điề u 39; Điề u 59; Điề u 60; Điề u 62 Luậ t Hôn nhân và gia đì nh

; Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a chị Nguyễn Thị M.

Đì nh chỉ mộ t phầ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a chị Nguyễ n Thị M đố i vớ i 01 căn nhà xây tạm 28m2 toạ lạc trên thửa đất số 11 và 13 tờ bả n đồ số 53.

Đối với tài sản là thửa đất số 13, tờ bả n đồ số 63, diện tích 660m2 toạ lạc tại bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông: Tạm giao cho chị Mai được quyền sử dụng diện tích đất 330m2, có tứ cận : Phía Đông giáp đất chia cho anh T dài 55m; Phía Tây giáp đất bà S dài 55m; Phía Nam giáp đất ông S dài 06m; Phía Bắ c giá p đườ ng liên thô n dà i 06m; giá trị thửa đất 33.435.000đ; Tạm giao cho anh Đà o Tấ t T đượ c quyề n sử dụ ng diệ n tí ch đấ t 330m2, có tứ cận : Phía Đông giáp đất bà A dài 55m; Phía Tây giáp đất chị M dài 55m; Phía Nam giáp đất ông S dà i 06m; phía Bắ c giá p đườ ng bê tông liên thôn dà i 06m. Anh T, chị M có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t.

Đối với toàn bộ tài sản là công trình phụ , cây trồ ng trên thử a đấ t số 11 và 13 tờ bả n đồ số 53, diệ n tích 10.378m2 toạ lạc tại b on B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông có giá trị 283.631.000đ: Giao cho anh T đượ c toà n quyề n sử dụ ng . Anh T phải trả cho chị M ½ giá trị tài sản là 141.815.500đ (Mộ t trăm bố n mươi mố t triệ u, tăm trăm mườ i lăm ngà n năm trăm đồ ng).

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậ m thi hà nh á n , án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ , đị nh giá tà i sả n và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12-10-2018 bị đơn anh Đào Tất T kháng cáo bản án sơ thẩm , yêu cầ u Toà á n cấ p phú c thẩ m sử a bả n á n sơ thẩ m theo hướ ng không chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a chị Nguyễ n Thị M.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫ n giữ nguyên yêu cầ u khở i kiệ n , bị đơn đồ ng thờ i là ngườ i khá ng cá o anh Đà o Tấ t T vẫ n giữ nguyên yêu cầ u khá ng cáo và trình bày nội dung như tại giai đoạn sơ thẩm.

Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Đắ k Nông phá t biể u ý kiế n:

- Về tố tụ ng : Ngườ i tham gia tố tụ ng và ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c

hiệ n đú ng quy đị nh củ a Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự tạ i Tò a á n cấ p phú c thẩ m.

- Về nộ i dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân tỉ nh Đắ k Nông đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ căn cứ khoản 3 Điề u 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự , chấ p nhậ n kháng cáo của anh Đà o Tấ t T , huỷ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩ m số 25/2018/HNGĐ-ST ngà y 10-10-2018 của Tòa án nhân dân huyệ n Đắk Song. Chuyể n hồ sơ vụ á n cho Toà á n nhân dân huyệ n Đắ k Song giả i quyế t lại vụ án theo thủ tục sơ thẩ m.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:

Xét yêu cầu kháng cáo của đương sự , căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu lưu trong hồ sơ, kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên toà, Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y:

Trong quá trì nh giả i quyế t vụ á n, Toà án cấp sơ thẩ m đã có nhiề u sai só t, vi phạm, cụ thể:

[1]. Đối với thửa đất số 13 tờ bả n đồ số 63, diệ n tí ch 660m2, toạ lạc tại bon B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông

Hộ i đồ ng xét xử xét thấy: Nguyên đơn chị M và bị đơn anh T đều xác đị nh thử a đấ t nêu trên có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông Đào Xuân T, bà Lê Thị T vào năm 2010- 2011, trong thờ i gian anh T và chị M chung số ng vớ i nhau như vợ chồ ng , chưa đăng ký kết hôn . Anh Thà nh cho rằ ng là tà i sả n ri êng củ a anh T, chị M cho rằng là tài sản chung của anh T chị M . Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩ m chưa tiế n hà nh thu thậ p chứ ng cứ để xá c đị nh công sứ c đó ng gó p củ a anh T, chị M đối với thửa đất số 13 nêu trên để phân chia cho ph ù hợp mà lại nhậ n đị nh đây là tà i sả n chung củ a vợ chồ ng có trong thờ i kỳ hôn nhân và căn cứ Điề u 33 Luậ t hôn nhân và gia đì nh để chia cho anh T, chị M mỗi người được sử dụ ng ½ diệ n tí ch thử a đấ t là chưa đủ căn cứ vì đây không phả i là tà i sả n chung trong thờ i kỳ hôn nhân mà đượ c mua trướ c khi anh T và chị M đăng ký kế t hôn.

Ngoài ra, tại Biên bả n xem xé t thẩ m đị nh tạ i chỗ (BL 36-39) thể hiệ n trên đấ t có 64 cây gò n trồ ng năm 2017 có giá trị 1.536.000đ nhưng không thể hiệ n đượ c trồ ng trên phầ n đấ t đượ c chia cho anh T hay chị M . Bản án sơ thẩm không giải quyết về tài sản , cây trồ ng trên đấ t thuộ c quyề n sở hữ u củ a ai để bù trừ giá trị chênh lệch là thiếu sót và không thi hà nh á n đượ c.

[2]. Đối vớ i thử a đấ t số 11 và 13 tờ bả n đồ số 53, toạ lạc tại b on B, xã T, huyệ n Đ, tỉnh Đắk Nông.

Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y: Đối với quyền sử dụng đất là thửa đất số 11 và 13 tờ bả n đồ số 53 nêu trên, chị Nguyễn Thị M cho rằ ng đây là tà i sả n riêng củ a anh T, nguồ n gố c thử a đấ t là cha mẹ anh T mua cho anh T trướ c khi chị M số ng chung vớ i anh T. Vì vậy, chị M không yêu cầ u phân chia quyề n sử dụ ng đấ t mà chỉ yêu cầu ph ân chia toà n bộ t ài sản, cây trồ ng trên đấ t đã tạ o lậ p vớ i anh T trong thờ i kỳ hôn nhân . Bị đơn anh Đà o Tấ t T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễ n Đì nh T , bà Phạm Thị Â cho rằ ng thử a đấ t nêu trên là củ a ông Nguyễ n Đì nh T, bà Phạm Thị Â cho anh T, chị M mượn để canh tác, tài sản cây trồ ng trên đấ t là của ông Nguyễ n Đì nh T, bà Phạm Thị Â đầ u tư, tạo lập nên không đồ ng ý phân chia cho chị M. Toà án cấp sơ thẩm cho rằng các tài sản này đều tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân để xác định là tài sả n chung củ a anh T, chị M là chưa có căn cứ vì năm 2013 anh T, chị M mới đăng ký kết hôn . Hơn nữ a, tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thể hiệ n: Trong cá c tà i sản, cây trồ ng trên thử a đấ t số 11 và 13, tờ bả n đồ số 53 nêu trên có một số cây trồng được trồng trong thờ i gian chị M chung số ng vớ i anh T , ngoài ra còn có: 722 cây cà phê trồ ng năm 2008 là thời điểm trước khi chị M về chu ng số ng vớ i anh T ; 105 trụ tiêu trồ ng năm 2017 là thời điểm sau ly hôn ; 191 trụ gòn có tiêu trồng năm 2016; 24 cây hông có tiêu trồ ng năm 2016 thì Toà án cấp sơ thẩm chưa tiến hành xác minh , thu thậ p chứ ng cứ để xá c đị nh đượ c tr ồng trong thời kỳ hôn nhân hay do anh T trồ ng sau khi ly hôn vớ i chị M vì anh T, chị M ly hôn theo bản án số 04/2016/HNGĐ-ST ngà y 01-4-2016 của Toà án nhân dân huyện Đắk Song. Tại phiên toà phúc thẩm, chị M xác định ngày chị ly thân bỏ nhà đi là và o ngày 29-7-2015 âm lị ch tứ c là ngà y 11-9-2015 dương lị ch. Do đó , Toà án cấp sơ thẩ m xá c đị nh cá c tà i sả n nêu trên là tà i sả n chung củ a anh T chị M tạ o lậ p trong thờ i kỳ hôn nhân để phân chia là không có căn cứ .

Tại sơ đồ thửa đất (BL 32-35) thể hiệ n trên đấ t có 01 ao nướ c diệ n tí ch 430m2. Tại Biên bản lấy lời khai (BL 27) chị M xác định đây là tài sản chung của anh T , chị M, Trong đơn khá ng cá o , anh T cho rằ ng ao nướ c nà y có tr ước khi chị M về chung số ng vớ i anh T . Tuy nhiên, tại Biên bản thẩm định tại chỗ không thể hiệ n trên thử a đấ t có ao nướ c và không tiế n hà nh đị nh giá đố i vớ i ao nướ c nêu trên. Toà án cấp sơ thẩm cũng không giải quyết ai được quyề n quản lý, sử dụ ng đố i vớ i ao nướ c nêu trên là thiế u só t.

Đối với diện tích đất tại thửa số 11 và 13, tờ bả n đồ số 53 nêu trên thì cầ n phải xác định diện tích đất đó thuộc quyền quản lý , sử dụ ng củ a ai để xem x ét việ c sẽ buộ c ai là ngườ i phả i trả giá trị tài sản trên đất nếu họ được giao tài sản trên đấ t mà tà i sả n đó củ a ngườ i khá c ngay tì nh.

Ngoài ra, Tại mục [3] phầ n nhậ n đị nh củ a Toà á n , Bản án sơ thẩm nhận đị nh chị M rú t yêu cầ u chia tà i sả n đố i vớ i 01 căn nhà xây tạm diện tích 28m2 trên đấ t nên đã đì nh chỉ đố i vớ i yêu cầ u nà y củ a chị M . Tuy nhiên, tại Biên bản phiên toà không thể hiệ n nộ i dung rút yêu cầu này; Quá trình định giá tài sản tranh chấ p không thông bá o cho anh Đà o Tấ t T đượ c biế t , không có mặ t củ a cá c đương sự là vi phạ m khoả n 3, khoản 4 Điề u 104 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự .

Do nhữ ng sai só t, vi phạ m nêu trên không thể khắ c phụ c đượ c tạ i phiên toà phúc thẩm. Vì vậy Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y cầ n hủ y bả n á n sơ thẩ m và chuyể n hồ sơ vụ á n cho Toà á n nhân dân huyệ n Đắ k Song giả i quyế t lạ i theo thủ tụ c sơ thẩ m.

[3]. Án phí dân sự phúc thẩm : Căn cứ khoả n 3 Điề u 148 Bộ luật Tố tụng dân sự : Do bả n á n sơ thẩ m bị huỷ nên anh Đà o Tấ t T không phải chịu án phí dân sự phú c thẩ m . Hoàn trả cho anh T 300.000đ (Ba trăm ngà n đồ ng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộ p theo biên lai số 0004470 ngày 12-10-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ và o khoả n3 Điề u 308, Điề u 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự ,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Huỷ bản án sơ thẩm số: 25/2018/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

2. Chuyể n hồ sơ vụ á n cho Toà á n nhân dân huyệ n Đắ k Song giả i quyế t lạ i vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoả n 3 Điề u 148 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự : Anh Đà o Tấ t T không phả i chị u á n phí dân sự phú c thẩ m . Hoàn trả cho anh T 300.000đ (Ba trăm ngà n đồ ng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0004470 ngày 12-10-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song , tỉnh Đắk Nông.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ