- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng V - Nguyễn Thị L"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V về nội dung yêu cầu bà L thanh toán tiền phạt chậm trả phát sinh từ ngày 09-3-2017 đến khi bà L thanh toán hết các khoản nợ theo Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng đ…
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 01/2019/DS-ST Ngày: 10-5-2019 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Đức Thập
2. Ông Nguyễn Xuân Biền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2019/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2019/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V
Địa chỉ: Số 89, phố L, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A - Phó Giám đốc trung tâm pháp luật Ngân hàng SME và cá nhân. (Văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02-3-2018). Vắng mặt.
Người được ông Phạm Tuấn A ủy quyền lại:
+ Ông Lý Viết T - Cán bộ xử lý nợ VPBank AMC. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Minh C - Cán bộ xử lý nợ VPBank AMC. Có mặt.
(Văn bản ủy quyền số 2334/2018/UQ-VPB ngày 20-9-2018).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980;
Hộ khẩu thường trú và cư trú: Đội 2, thôn B, xã K, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Vắng mặt, có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12-11-2018 và trong quá trình giải quyết, tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 04-11-2016, bà Nguyễn Thị L vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 84.000.000 đồng theo Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử và vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) số 20161108-0003462, khoản vay không có tài sản bảo đảm, lãi suất 34%/năm, thời hạn vay 18 tháng, mục đích vay để kinh doanh. Phương thức trả gốc và lãi: bà L phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và lãi vào ngày 09 hàng tháng theo lịch trả nợ kèm theo. Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L thanh toán được số tiền nợ gốc là 11.139.176 đồng, tiền lãi 7.080.894 đồng.
Do bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay trên đã bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 09-3-2017, đến ngày 10-5-2019 (ngày xét xử sơ thẩm), bà L còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 72.860.824 đồng, số tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn là 83.693.259 đồng và 53.071.210 đồng tiền phạt chậm trả. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút yêu cầu buộc bà L thanh toán khoản tiền phạt chậm trả phát sinh từ ngày 09-3-2017 đến khi bà L thanh toán hết các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký.
Tổng số tiền Ngân hàng yêu cầu bà L phải thanh toán là tiền nợ gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn tính đến ngày 10-5-2019 là 156.554.083 đồng. Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm, bà L còn phải chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc đến khi thanh toán hết các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng không yêu cầu chồng bà L là ông Nguyễn Khắc T phải liên đới thanh toán trả nợ cho Ngân hàng vì không liên quan.
Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Thống nhất nội dung trình bày của Ngân hàng liên quan đến quá trình vay nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 11.139.176 đồng và tiền lãi là 7.080.894 đồng. Từ đó đến nay, bà không thanh toán thêm khoản nào cho Ngân hàng. Đến nay, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà thanh toán số tiền còn nợ gốc, các khoản tiền lãi phát sinh, tiền phạt chậm trả thì bà nhất trí. Do làm ăn kinh doanh thua lỗ nên bà chưa có điều kiện trả nợ cho Ngân hàng. Bà đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để bà có thời gian thu xếp trả nợ, bà xin trả nợ trong vòng 3 tháng, mỗi tháng trả tiền nợ gốc là 24.000.000 đồng và tiền lãi. Bà đề nghị Ngân hàng miễn cho bà tiền phạt chậm trả và giảm một phần tiền lãi. Việc bà vay nợ Ngân hàng để kinh doanh thì chồng bà không biết, bà cũng không bàn bạc gì với chồng, xác định đây là khoản vay riêng, không liên quan đến chồng bà là ông Nguyễn Khắc T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều được đảm bảo. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 121, 122, 124, 290, 292, 405, 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Luật thi hành án dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V về nội dung yêu cầu bà L thanh toán tiền phạt chậm trả phát sinh từ ngày 09-3-2017 đến khi bà L thanh toán hết các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V. Buộc bà Nguyễn Thị L thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10-5-2019 là: nợ gốc 72.860.824 đồng; tiền lãi trong hạn và quá hạn 83.693.259 đồng, tổng là 156.554.083 đồng. Kể từ ngày 11-5-2019 cho đến khi thi hành án xong, bà L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 7.827.704 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 3.340.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ngày 04-11-2016, bà L ký Hợp đồng tín dụng vay tiền của Ngân hàng, mục đích sử dụng vay để kinh doanh, tuy nhiên bà L không có đăng ký kinh doanh. Do bên vay tiền là bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà L trả nợ tiền gốc, tiền lãi, phạt chậm trả theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bà L có nơi cư trú tại huyện G, tỉnh Hải Dương nên theo quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.
Bị đơn là bà L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà L.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà L thanh toán khoản tiền phạt chậm trả phát sinh từ ngày 09-3-2017 đến khi bà L thanh toán hết các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu nguyên đơn đã rút. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
Về nội dung:
Xét Hợp đồng tín dụng số 20161108-0003462: Ngày 04-11-2016, bà L vay Ngân hàng số tiền 84.000.000 đồng, Ngân hàng giải ngân bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bà L tại Ngân hàng số tiền 84.000.000 đồng. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, giữa bên cho vay Ngân hàng và bên vay tiền bà L thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại các điều 121, 122, 124 của Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
Đối chiếu với các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, lịch trả nợ, Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng thì bà L đã vi phạm về thời hạn trả nợ theo thỏa thuận tại Mục 7 Phần V Hợp đồng tín dụng và Điều 4 Bộ điều khoản và điều kiện về vay tiêu dùng cá nhân, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ ngân hàng điện tử nên Ngân hàng yêu cầu bà L phải trả số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn và quá hạn là có căn cứ. Căn cứ chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thông tin dư nợ về khoản tiền vay của bà L phải trả từ thời điểm phát sinh khoản tiền vay theo Hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10-5-2019 thì số tiền bà L còn nợ Ngân hàng là: Nợ gốc còn lại là 72.860.824 đồng; tiền lãi trong hạn và quá hạn là 83.693.259 đồng. Bị đơn bà L nhất trí trả nợ trong vòng 3 tháng giảm một phần tiền lãi, bà đề xuất mỗi tháng trả tiền nợ gốc là 24.000.000 đồng và tiền lãi nhưng Ngân hàng không đồng ý.
Xét việc bà L vay tiền của Ngân hàng mục đích kinh doanh cá nhân, chồng bà L là ông T không biết và không được sử dụng số tiền do bà L vay, nay Ngân hàng không yêu cầu ông T phải liên đới trả số nợ trên nên ông T không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến khoản vay nợ của bà L. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, cần buộc bà L phải trả Ngân hàng tổng cộng số tiền nợ gốc còn lại, tiền lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 10-5-2019 là 156.554.083 đồng và tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán từ ngày 11-5-2019 đến ngày bà L trả nợ xong cho Ngân hàng với lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 121, 122, 124, 290, 292, 405, 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Luật thi hành án dân sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V về nội dung yêu cầu bà L thanh toán tiền phạt chậm trả phát sinh từ ngày 09-3-2017 đến khi bà L thanh toán hết các khoản nợ theo Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử và vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng đã ký. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
Buộc bà Nguyễn Thị L thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 10-5-2019 là: nợ gốc 72.860.824 đồng; tiền lãi trong hạn và quá hạn 83.693.259 đồng, tổng là 156.554.083 đồng.
Kể từ ngày 11-5-2019 cho đến khi thi hành án xong, bà Nguyễn Thị L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ Ngân hàng điện tử và vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20161108-0003462.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 7.827.704 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí là 3.340.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2017/0003605 ngày 22-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương (do ông Nguyễn Minh C nộp).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gia Lộc; - Chi cục THADS huyện Gia Lộc; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hoài Thanh |